
Thí sinh tìm hiểu thông tin tại Ngày hội Tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp 2026 do báo Tuổi Trẻ tổ chức tại Hải Phòng - Ảnh: DANH KHANG
Công bằng trong tuyển sinh có hai nửa. Nửa thứ nhất là những người cạnh tranh vào cùng một ngành cần được đo bằng cùng một "cây thước", hoặc bằng những thang đo đã được chứng minh có thể so sánh đáng tin cậy. Nửa thứ hai là người học phải được biết "cây thước" ấy đủ sớm để chuẩn bị.
Cùng một ngành, cần bảo đảm khả năng so sánh
Những năm gần đây, một ngành đào tạo có thể đồng thời tuyển sinh bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, chứng chỉ quốc tế hoặc các phương thức kết hợp.
Sự đa dạng này mở rộng cơ hội tiếp cận đại học, nhưng đồng thời đặt ra một câu hỏi về công bằng: khi những thí sinh cùng cạnh tranh vào một ngành được đánh giá bằng các “cây thước” khác nhau, liệu kết quả cuối cùng có thực sự so sánh được với nhau?
Một mức điểm của kỳ thi tốt nghiệp THPT, bài thi đánh giá năng lực hay SAT không tự nhiên trở thành tương đương chỉ vì được đưa vào một công thức quy đổi.
Mỗi bài thi có mục tiêu, cấu trúc, nội dung, thang điểm và đặc điểm của nhóm thí sinh dự thi khác nhau. Muốn quy đổi đáng tin cậy cần có dữ liệu đủ lớn, thiết kế đối sánh phù hợp, nhóm thí sinh chung hoặc những điều kiện liên kết cần thiết, phương pháp thống kê phù hợp và đặc biệt phải kiểm chứng tính ổn định qua nhiều năm.
Không phải cứ “một phương thức” là mặc nhiên công bằng

Thí sinh tìm hiểu thông tin tuyển sinh trong Ngày hội lựa chọn xét tuyển đại học, cao đẳng do báo Tuổi Trẻ tổ chức tại Hà Nội - Ảnh: HÀ QUÂN
Tuy nhiên, từ yêu cầu bảo đảm khả năng so sánh không nên đi đến kết luận rằng cứ một ngành chỉ sử dụng một phương thức thì mặc nhiên bảo đảm công bằng. Một “cây thước” duy nhất chỉ giải quyết được vấn đề thống nhất thang đo; nó chưa trả lời được “cây thước” đó có đo đúng những năng lực cần thiết hay không.
Trong khoa học đánh giá, trước khi hỏi một bài thi có tạo ra điểm số ổn định hay không còn phải hỏi nó đo cái gì và kết quả có phù hợp với mục đích sử dụng hay không.
Một bài thi có thể rất ổn định về kỹ thuật nhưng nếu chủ yếu đo khả năng ghi nhớ trong khi ngành đào tạo cần năng lực tư duy, giải quyết vấn đề hoặc những năng lực chuyên biệt khác thì việc tất cả thí sinh cùng làm bài thi ấy chưa đủ để khẳng định chất lượng tuyển chọn.
Ngược lại, nhiều nguồn kết quả cũng không mặc nhiên đồng nghĩa với thiếu công bằng. Nếu có dữ liệu đủ lớn, có nhóm thí sinh chung và bài thi ổn định, hoàn toàn có thể sử dụng các phương pháp thống kê để đối sánh, xây dựng hàm quy đổi và kiểm chứng qua nhiều năm.
Với hệ thống dữ liệu tuyển sinh tập trung và khả năng xử lý của công nghệ thông tin hiện nay, điều này khả thi hơn rất nhiều so với trước đây.
Phải bắt đầu được thông báo từ lớp 10

Các nữ sinh trong Ngày hội Tự tin vào lớp 10 do báo Tuổi Trẻ tổ chức tại TP.HCM - Ảnh: DUYÊN PHAN
Đây là vấn đề cần được nhìn rõ hơn trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ở cấp THPT, chương trình được thiết kế theo hướng phân hóa và định hướng nghề nghiệp.
Học sinh bắt đầu lựa chọn một số môn học và chuyên đề phù hợp với năng lực, sở thích và định hướng tương lai ngay từ lớp 10. Vì vậy, quá trình chuẩn bị cho tuyển sinh đại học về thực chất không bắt đầu ở lớp 12 mà đã bắt đầu từ đầu cấp THPT.
Một học sinh định hướng kỹ thuật có thể chú trọng vật lý, hóa học, tin học; học sinh hướng tới lĩnh vực sức khỏe có thể ưu tiên hóa học, sinh học; học sinh định hướng kinh tế, luật hay khoa học xã hội lại có những lựa chọn khác.
Những quyết định này không đơn thuần là lựa chọn một vài môn trong thời khóa biểu mà ảnh hưởng đến thời lượng học, chiều sâu kiến thức, quá trình phát triển năng lực và khả năng đáp ứng yêu cầu đầu vào của ngành học sau này.
Điều này làm thay đổi cách nhìn về công bằng tuyển sinh. Nếu đến lớp 11 hoặc lớp 12 mới thay đổi căn bản môn xét tuyển, bài thi hoặc phương thức đánh giá, học sinh không đơn giản chỉ cần thêm vài tháng để ôn một kỳ thi mới.
Có những lựa chọn đã được thực hiện từ lớp 10 và rất khó đảo ngược. Một học sinh không lựa chọn một môn từ đầu cấp khó có thể trong thời gian ngắn đạt nền tảng tương đương với người đã học môn đó có hệ thống trong hai hoặc ba năm.
Vì sao cần báo trước ít nhất ba năm?

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại TP.HCM - Ảnh: DUYÊN PHAN
Từ cấu trúc của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, mốc ba năm không phải một con số được lựa chọn tùy ý. Logic khá rõ: lớp 10 lựa chọn - ba năm học theo lựa chọn - cuối lớp 12 tuyển sinh.
Nếu một thay đổi tuyển sinh có khả năng tác động tới lựa chọn môn học thì về nguyên tắc, học sinh cần được biết trước khi đưa ra lựa chọn đó. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nguyên tắc này có cơ sở.
Hàn Quốc luật hóa việc công bố sớm những thay đổi quan trọng ở cấp hệ thống liên quan đến kỳ thi tuyển sinh, môn thi, phương pháp đánh giá và hình thức ra đề được báo trước 4 năm.
Úc thể hiện cùng một logic theo cách khác. Tại New South Wales và Australian Capital Territory, thông tin về yêu cầu đại học được cung cấp cho học sinh từ rất sớm, thời điểm các em lựa chọn môn học cho những năm tiếp theo. Điều đó cho phép người học cân nhắc yêu cầu đầu vào đại học ngay khi lựa chọn con đường học tập ở phổ thông.
Điểm đáng tham khảo không phải mọi quốc gia đều áp dụng một quy định cứng đúng ba năm. Với Việt Nam, trong cấu trúc hiện nay của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, thời điểm đó chính là trước khi học sinh bước vào lớp 10.
Tự chủ tuyển sinh phải đi cùng trách nhiệm và tính ổn định
Nguyên tắc báo trước không làm mất quyền tự chủ tuyển sinh của các trường đại học. Ngược lại, nó đặt quyền tự chủ vào một khuôn khổ có trách nhiệm hơn. Trường vẫn có thể lựa chọn phương thức phù hợp với mục tiêu đào tạo, nhưng cần giải trình được phương thức đó đo năng lực gì, vì sao được lựa chọn và nếu thay đổi thì người học được thông báo đủ sớm hay không.
Tự chủ vì thế không chỉ là quyền quyết định “cây thước”, mà còn là trách nhiệm bảo đảm chất lượng của “cây thước” và trách nhiệm thông báo trước khi thay đổi nó. Một chính sách tuyển sinh thay đổi liên tục có thể linh hoạt đối với cơ sở đào tạo nhưng lại chuyển phần lớn rủi ro sang học sinh và gia đình - những người đã phải đưa ra các quyết định học tập từ nhiều năm trước.
Tính ổn định còn giúp giảm tình trạng học sinh phải tham gia nhiều kỳ thi, tích lũy nhiều chứng chỉ chỉ để “phòng thân”. Khi từ lớp 10 các em đã biết tương đối rõ những yêu cầu cơ bản của nhóm ngành muốn theo học, việc lựa chọn môn, chuyên đề và kế hoạch phát triển năng lực sẽ có định hướng hơn. Sự ổn định vì vậy không đối lập với đổi mới; ngược lại, nó tạo điều kiện để đổi mới có lộ trình và người học có khả năng thích ứng.
Công bằng phải được nhìn từ lúc học sinh bắt đầu chuẩn bị
Tranh luận về tuyển sinh không nên thu hẹp thành câu hỏi nên có một hay nhiều phương thức. Vấn đề cốt lõi là thiết kế một hệ thống vừa bảo đảm công bằng trong đo lường, vừa bảo đảm công bằng trong cơ hội chuẩn bị.
Những người cùng cạnh tranh vào một ngành cần được đánh giá bằng cùng một “cây thước”, hoặc bằng những thang đo đã được chứng minh có khả năng so sánh đáng tin cậy. Đó là công bằng của phép đo.
Nhưng khi Chương trình giáo dục phổ thông 2018 yêu cầu học sinh đưa ra những lựa chọn quan trọng từ lớp 10, các em cũng cần được biết đủ sớm những yêu cầu tuyển sinh có thể ảnh hưởng đến lựa chọn đó. Đó là công bằng của cơ hội chuẩn bị.
Theo Bộ trưởng, có những ngành điểm chuẩn rất cao nhưng lại cho cộng điểm thưởng tới 1,5 điểm. Điều này khiến hàng ngàn thí sinh dù điểm thi cao vẫn không trúng tuyển chỉ vì không có điều kiện thi các chứng chỉ đắt tiền.