Bỏ qua điều hướng
•

Thẻ văn hóa: Trao đúng người, chi đúng chỗ

Thẻ văn hóa: Trao đúng người, chi đúng chỗ
Nguồn ảnh: VTC News

Từ kinh nghiệm quốc tế, chính sách thẻ văn hóa cần được thiết kế để hỗ trợ đúng đối tượng, ngăn ngừa gian lận và bảo đảm hiệu quả từng đồng ngân sách.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất hỗ trợ học sinh, sinh viên, người có công, hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa thông qua thẻ văn hóa quốc gia.

Đây là chính sách vừa kích cầu thị trường, vừa thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa, góp phần nuôi dưỡng tinh thần tiêu dùng, thụ hưởng sản phẩm văn hóa, sáng tạo. Kinh nghiệm của Pháp, Italy, Đức hay Hàn Quốc cho thấy phát thẻ thì dễ song để mỗi đồng hỗ trợ thực sự góp phần mở rộng đời sống văn hóa của người dân mới là bài toán khó.

Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ II năm 2026.

Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ II năm 2026.

Với nhiều học sinh vùng khó khăn, một vé xem phim tại rạp, một buổi biểu diễn nghệ thuật hay một trải nghiệm tại bảo tàng nghệ thuật vẫn là điều mong mỏi. Trong khi đó, các nhà hát, rạp chiếu, nhà xuất bản, bảo tàng lại luôn trăn trở bài toán khán giả.

Thẻ văn hóa là công cụ nối hai đầu cung, cầu đó. Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí để người dân, nhất là người trẻ và người yếu thế, tiếp cận sản phẩm công nghiệp văn hóa, qua đó tạo thói quen tiêu dùng văn hóa và nuôi dưỡng động lực phát triển nội sinh của thị trường trong nước. Sâu xa hơn, mỗi khi một người trẻ chọn đọc một cuốn sách, xem một bộ phim, một vở diễn của Việt Nam, đó cũng là lúc thẩm mỹ, nhân cách được bồi đắp và bản sắc dân tộc được hun đúc, tiếp nối.

Theo dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ tiêu dùng gồm học sinh, sinh viên, người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật và các đối tượng chính sách khác. Sản phẩm được hỗ trợ là sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam, sản phẩm trọng điểm hoặc sản phẩm phục vụ giáo dục, nâng cao khả năng tiếp cận văn hóa của người dân. Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí nhưng không làm thay đổi giá bán. Thủ tướng quyết định các chương trình thúc đẩy tiêu dùng trên phạm vi toàn quốc; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chương trình trên địa bàn.

Dự thảo cũng nghiêm cấm việc giả mạo đối tượng thụ hưởng, sử dụng thẻ của người khác hay quy đổi giá trị hỗ trợ thành tiền. Khi thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đề nghị cân nhắc gọi tên là “thẻ phúc lợi văn hóa” để phản ánh đúng bản chất đây là chính sách hỗ trợ có mục tiêu, không phải chính sách phổ cập. Đề xuất này chạm đúng bài toán cốt lõi mà nhiều nước đã phải tìm lời giải: thẻ văn hóa dành cho ai?

Chính sách này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm. Khi nguồn lực công cho văn hóa được nâng lên, câu hỏi đặt ra là chi thế nào cho hiệu quả. Hầu hết chi tiết về thẻ văn hóa, từ mức hỗ trợ, kênh sử dụng đến cách kiểm soát sẽ do Chính phủ quy định. Vì vậy, nhìn lại những gì các nước đã làm, cả thành công lẫn vấp váp là việc cần thiết.

Pháp - Thẻ phổ cập và bài học về “người dẫn đường”

Pass Culture của Pháp là mô hình được nhắc đến nhiều nhất. Sau giai đoạn thử nghiệm từ năm 2019, thẻ được triển khai trên toàn quốc từ năm 2021, cấp cho mọi thanh niên 18 tuổi một khoản tín dụng 300 euro trên ứng dụng điện thoại để mua sách, vé xem phim, vé biểu diễn, khóa học nghệ thuật… Sau đó, chính sách được mở rộng cho học sinh từ 15 đến 17 tuổi, kèm một phần “tập thể” do nhà trường sử dụng để tổ chức hoạt động văn hóa cho cả lớp.

Về độ phủ, Pass Culture rất thành công. Theo báo cáo của Tòa Thẩm kế Pháp công bố tháng 12/2024, đã có 4,2 triệu thanh niên sử dụng thẻ kể từ năm 2019; 84% thanh niên từ 18 đến 20 tuổi là người thụ hưởng. Ngân sách cho chương trình tăng nhanh: chi cho phần cá nhân tăng từ hơn 90 triệu euro năm 2021 lên 244 triệu euro năm 2024, chưa kể 80 triệu euro cho phần tập thể.

Câu chuyện người trẻ Pháp dùng thẻ chủ yếu để mua truyện tranh Manga trong những năm đầu từng được báo chí nhắc đến. Điều đáng chú ý hơn là đánh giá tổng thể sau 5 năm. Theo Tòa Thẩm kế Pháp, sách chiếm từ 42 đến 55% chi tiêu qua thẻ, tỷ trọng manga trong số sách được mua đã giảm từ khoảng 40% xuống khoảng 20%. Chỉ 7% người dùng đặt vé các loại hình biểu diễn trực tiếp ngoài hòa nhạc.

Đáng chú ý, tỷ lệ kích hoạt thẻ ở thanh niên thuộc gia đình lao động phổ thông chỉ khoảng 68%, thấp hơn nhiều so với nhóm gia đình khá giả. Tòa Thẩm kế Pháp nhận định chương trình chủ yếu củng cố những thói quen văn hóa sẵn có của người trẻ, nên tác động đối với việc mở rộng tiếp cận văn hóa còn hạn chế; hoạt động hướng dẫn, kết nối chưa đủ mạnh để bù đắp những khoảng cách trong tiếp cận văn hóa.

Từ ngày 1/3/2025, Pháp cải cách mạnh. Khoản tín dụng cho thanh niên 18 tuổi giảm từ 300 euro xuống 150 euro nhưng được kéo dài thời hạn sử dụng; học sinh 15-16 tuổi không còn khoản tín dụng cá nhân. Thanh niên 17 tuổi được nâng từ 30 lên 50 euro. Người khuyết tật và thanh niên thuộc gia đình thu nhập thấp được cộng thêm 50 euro. Theo cơ quan quản lý chương trình, mục tiêu là “công bằng xã hội hơn”, ưu tiên những người ở xa các hoạt động văn hóa.

Bài học từ Pháp là thẻ văn hóa không thể chỉ là một “ví điện tử”. Nếu không có người dẫn đường, từ thầy cô, nhà trường đến các thiết chế văn hóa, người trẻ sẽ chủ yếu mua những gì họ vốn đã quen. Khi đó, mục tiêu chính sách lại chỉ hỗ trợ cho thói quen sẵn có, chứ chưa mở ra những trải nghiệm văn hóa mới.

Italy và Đức - Khi chính sách thiếu ổn định

Italy đi trước Pháp với “thẻ 18 tuổi” (18app) từ năm 2016, cấp 500 euro cho mỗi thanh niên tròn 18 tuổi. Chương trình được giới trẻ hưởng ứng, nhưng cũng nhanh chóng trở thành “miếng mồi” cho gian lận. Theo Cảnh sát Tài chính Italy (Guardia di Finanza), các vụ gian lận được phát hiện đã vượt 17 triệu euro, tương đương 3,85% tổng chi tiêu qua thẻ trong giai đoạn được kiểm tra.

Thủ đoạn phổ biến là mua bán lại mã hỗ trợ trên mạng xã hội. Một số cửa hàng “mua” lại thẻ của thanh niên với giá thấp hơn mệnh giá hoặc ghi khống giao dịch mua sách để thực chất bán hàng điện tử. Dấu hiệu bất thường là từ 100 người trở lên dùng thẻ tại cùng một cửa hàng trong một ngày, hoặc chi tiêu dồn dập trước khi thẻ hết hạn.

Từ năm 2024, Italy thay 18app bằng hai loại thẻ, mỗi loại 500 euro. Thẻ Văn hóa thanh niên dành cho thanh niên 18 tuổi thuộc hộ gia đình có chỉ số ISEE không quá 35.000 euro (chỉ số tình trạng kinh tế tương đương của Italy, tổng hợp thu nhập và tài sản của cả hộ, có điều chỉnh theo số thành viên) và Thẻ Thành tích dành cho người tốt nghiệp trung học trước 19 tuổi với điểm tối đa 100/100.

Đến Luật Ngân sách năm 2026, Italy lại quyết định từ năm 2027 hợp nhất hai thẻ này thành một “Thẻ Giá trị” (Carta Valore) mới gắn với việc tốt nghiệp trung học, với tổng ngân sách khoảng 180 triệu euro. Chỉ trong khoảng 10 năm, chính sách đã trải qua ba mô hình khác nhau: từ phổ cập, sang ưu tiên theo thu nhập và thành tích, rồi lại tái cấu trúc.

Đức là ví dụ đáng suy ngẫm hơn. Thẻ KulturPass ra đời năm 2023 với mức 200 euro cho thanh niên 18 tuổi, sau đó giảm còn 100 euro. Ngày 24/9/2025, Chính phủ Liên bang Đức quyết định chấm dứt chương trình vào cuối năm 2025, sau khi tổng chi đã vượt 100 triệu euro. Lý do được nêu ra là Kiểm toán Liên bang cho rằng chương trình thiếu cơ sở hiến định vì văn hóa thuộc thẩm quyền của các bang chứ không phải Liên bang.

Hai trường hợp này cho thấy một chính sách hỗ trợ tiêu dùng văn hóa cần được thiết kế chặt chẽ ngay từ đầu, có cơ sở pháp lý vững chắc và có cơ chế chống gian lận hiệu quả. Nếu không, chính sách sẽ phải liên tục điều chỉnh, thậm chí bị dừng giữa chừng, gây lãng phí và làm giảm niềm tin của người dân.

Hàn Quốc - Thẻ cho người yếu thế, Trung ương và địa phương cùng chi

Gần với đối tượng trong dự thảo của Việt Nam nhất là thẻ Munhwa Nuri (tạm dịch: thẻ “Hưởng thụ văn hóa”) của Hàn Quốc. Được quy định trong Luật Phát triển văn hóa nghệ thuật, thẻ này không dành cho mọi người trẻ mà dành cho người thuộc diện được trợ cấp sinh hoạt cơ bản và hộ cận nghèo, từ 6 tuổi trở lên.

Năm 2026, mỗi người được hỗ trợ 150.000 won/năm; thanh thiếu niên từ 13 đến 18 tuổi và người từ 60 đến 64 tuổi được cộng thêm 10.000 won. Thẻ dùng được để xem biểu diễn, phim, triển lãm, đi du lịch trong nước và xem bốn môn thể thao chuyên nghiệp, nhưng phải dùng hết trong năm.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, năm 2026 chương trình hướng tới khoảng 2,7 triệu người với tổng kinh phí 374,5 tỷ won, trong đó ngân sách Trung ương 263,6 tỷ won và ngân sách địa phương 110,9 tỷ won. Thẻ do Hội đồng Nghệ thuật Hàn Quốc vận hành; phần kinh phí Trung ương lấy từ Quỹ Xổ số.

Điểm đáng chú ý trong cách làm của Hàn Quốc là đối tượng được xác định rõ, mức hỗ trợ đồng đều trên toàn quốc, còn Trung ương và địa phương cùng chia sẻ kinh phí trong một chương trình thống nhất. Người dân ở đâu cũng được hưởng như nhau, địa phương không phải “tự bơi” và cũng không thể “mỗi nơi một kiểu”.

Các liền anh, liền chị biểu diễn Dân ca Quan họ trên thuyền. (Ảnh: Báo Bắc Ninh)

Các liền anh, liền chị biểu diễn Dân ca Quan họ trên thuyền. (Ảnh: Báo Bắc Ninh)

Để mỗi đồng hỗ trợ đến đúng chỗĐối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, thiết kế trong dự thảo Luật có nhiều điểm hợp lý: đối tượng hướng tới cả người trẻ lẫn người yếu thế; sản phẩm được hỗ trợ ưu tiên sản phẩm mang bản sắc Việt Nam; hành vi gian lận thẻ được đưa vào danh mục bị nghiêm cấm. Phần lớn nội dung cụ thể sẽ nằm ở văn bản hướng dẫn, nên có thể gợi mở một số hướng sau.

Thứ nhất, xác định rõ ưu tiên và phân tầng mức hỗ trợ. Đề xuất gọi tên “thẻ phúc lợi văn hóa” của cơ quan thẩm tra đặt ra yêu cầu phải làm rõ mục tiêu chính sách.

Dự thảo hướng tới hai nhóm có nhu cầu khác nhau: học sinh, sinh viên, với mục tiêu hình thành thói quen thưởng thức văn hóa và người yếu thế, với mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa. Pháp từ chỗ phổ cập đã phải bổ sung khoản hỗ trợ thêm cho người thu nhập thấp. Hàn Quốc tập trung vào người yếu thế ngay từ đầu. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Việt Nam nên phân tầng mức hỗ trợ, ưu tiên cho những nhóm mục tiêu thay vì chia đều.

Thứ hai, thẻ phải đi cùng người dẫn đường. Bài học của Pháp cho thấy tiền hỗ trợ tự nó không làm thay đổi thói quen văn hóa.

Có thể gắn thẻ văn hóa với chương trình giáo dục nghệ thuật trong nhà trường, với các nhà hát, bảo tàng, thư viện, để mỗi học sinh không chỉ “được cho tiền” mà được giới thiệu, hướng dẫn trải nghiệm những loại hình, sản phẩm công nghiệp văn hoá mới. Khi đó, thẻ văn hóa trở thành một kênh giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật và văn hoá thiết thực, bồi dưỡng phẩm chất công dân, chứ không chỉ là một khoản trợ giá.

Thứ ba, chống gian lận ngay từ khâu thiết kế. Dự thảo đã nghiêm cấm giả mạo đối tượng, dùng thẻ người khác, quy đổi thành tiền.

Để quy định đi vào thực chất, thẻ nên gắn với định danh điện tử, chỉ thanh toán tại các đơn vị cung cấp đã được xác nhận và có hệ thống tự động phát hiện giao dịch bất thường, như cách Italy nhận diện các cửa hàng có từ 100 lượt người dùng thẻ trở lên trong một ngày.

Thứ tư, bảo đảm tính thống nhất giữa Trung ương và địa phương. Việc giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chương trình địa phương là cần thiết để phù hợp điều kiện từng nơi.

Tuy nhiên, nên có khung chung về đối tượng, mức sàn và cơ chế chia sẻ kinh phí như Hàn Quốc, để người dân ở địa phương khó khăn không bị thiệt thòi so với địa phương có điều kiện.

Thứ năm, thí điểm, đo lường và giữ ổn định chính sách. Pháp thử nghiệm hai năm trước khi triển khai toàn quốc; Italy và Đức cho thấy cái giá của việc thay đổi hoặc dừng chính sách giữa chừng.

Việt Nam nên thí điểm tại một số địa phương, xây dựng bộ chỉ số đánh giá ngay từ đầu (tỷ lệ kích hoạt theo nhóm đối tượng, cơ cấu chi tiêu theo loại hình, mức độ tham gia các hoạt động mới) và công bố định kỳ, làm cơ sở điều chỉnh trước khi mở rộng.

Thẻ văn hóa không chỉ là một khoản trợ giá. Nếu được thiết kế tốt, đó là cách Nhà nước “đặt hàng” cho thị trường văn hóa trong nước, đồng thời mở cánh cửa văn hóa cho những người ít cơ hội. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thành công của thẻ văn hóa không đo bằng số thẻ được phát ra, mà bằng số người được trải nghiệm sản phẩm công nghiệp văn hoá trong các nhà hát, bảo tàng, thư viện nhờ tấm thẻ ấy.

Một thế hệ biết trân trọng và sẵn sàng chi trả cho sản phẩm văn hóa, sáng tạo của dân tộc chính là nền tảng bền vững nhất cho công nghiệp văn hóa, cho phẩm cách quốc gia và bản sắc Việt Nam trong hội nhập. Trao đúng người, chi đúng chỗ, đo được hiệu quả là điều kiện để chính sách thực sự góp phần hiện thực hóa yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW: văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội.

Nguyễn Sơn(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất triển khai thẻ văn hóa quốc gia nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên, người có công, hộ nghèo và người khuyết tật tiếp cận các sản phẩm văn hóa trong nước. Công cụ này đóng vai trò cầu nối giải quyết đồng thời bài toán thiếu hụt khán giả của các nhà hát, bảo tàng và rào cản chi phí của nhóm yếu thế. Mục tiêu căn cốt là kích cầu thị trường nội địa, bồi đắp thẩm mỹ nhân cách và hun đúc bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ. Để bảo đảm tính khả thi, dự thảo quy định Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí mà không can thiệp vào giá bán thị trường. Thẩm quyền quyết định chương trình trên phạm vi toàn quốc thuộc Thủ tướng, trong khi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định kế hoạch cụ thể tại địa phương. Nhằm ngăn ngừa thất thoát ngân sách, khung pháp lý nghiêm cấm triệt để các hành vi giả mạo đối tượng thụ hưởng, mượn thẻ hoặc quy đổi giá trị hỗ trợ thành tiền mặt. Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã đề nghị cân nhắc tên gọi "thẻ phúc lợi văn hóa" nhằm phản ánh chính xác bản chất hỗ trợ có mục tiêu. Hướng đi này hoàn toàn tương thích với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về việc bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa. Bài học từ mô hình Pass Culture của Pháp cùng kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc thiết kế chi tiết cơ chế phân bổ và kiểm soát của Chính phủ sẽ quyết định hiệu quả thực tế của từng đồng vốn công.
amung