Chính vì vậy nên tôi khá bất ngờ khi lần đầu gặp Hoàng Thụy Anh, một cô gái nhỏ nhắn, tóc buông ngang vai, trông như nữ sinh mới ra trường với nụ cười tươi tắn, có phần bẽn lẽn và tiếng “dạ” nhẹ như không thể nhẹ hơn của con gái miền trung. Trên facebook, nick của chị là Chip Chip, khi nhắn tin hay trò chuyện cũng hay xưng là Chip và mọi người đều thấy cái tên này mới đúng là chị. Nghe như nói lái tiếng chiêm chiếp của một con chim non dễ thương chứa đựng nhiều trìu mến.
Hoàng Thụy Anh sinh năm 1979 tại huyện Lệ Thủy (thuộc tỉnh Quảng Bình trước đây). Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành sư phạm văn Đại học Quy Nhơn, chị trở thành giáo viên trung học phổ thông và bắt đầu “dan díu” với văn chương, tuy chưa nghĩ đến việc trở thành người viết chuyên nghiệp. Mọi sự thay đổi khi chị học thạc sĩ lý luận phê bình văn học tại Đại học Sư phạm Huế. Người hướng dẫn là PGS Tiến sĩ văn học Trần Huyền Sâm đã gợi ý Hoàng Thụy Anh chọn đề tài nghiên cứu thơ của chính cha chị, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật. Kết quả là, cùng với việc bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ, tác phẩm đầu tay của Hoàng Thụy Anh ra đời: Thơ Hoàng Vũ Thuật - nhìn từ thi pháp học của Roman Jakobson.
Jakobson (1896-1982) là người Mỹ gốc Nga, được coi là cha đẻ của ngôn ngữ học cấu trúc hiện đại, liên kết ngôn ngữ học với thi pháp. Ông lập luận rằng chức năng thi pháp tập trung vào chính thông điệp và làm nổi bật tính tự thân của hình thức ngôn từ trong thơ ca và văn chương. Có thể nói Thụy Anh đã lựa chọn một phương pháp không dễ để nghiên cứu về thơ của cha mình, người được coi là có nhiều nỗ lực đổi mới thi ca nhưng cũng để lại những tranh luận về chính sự đổi mới ấy.
Sau khi học thạc sĩ, Thụy Anh quyết định chuyển hẳn sang văn chương. Năm 2011, chị chuyển công tác về Tạp chí Nhật Lệ (tỉnh Quảng Bình cũ). Theo thời gian, lần lượt các tiểu luận, phê bình văn học ra đời, xen vào đó là hai tập thơ Người đàn bà sinh ra từ mưa (2017) và Thơm từ nỗi đau (2025). Tập Thơm từ nỗi đau đã đoạt giải thưởng văn học năm 2025 chuyên ngành thơ của Hội Nhà văn Việt Nam cùng Trên con đường tóc của Trang Thanh.
Ai đó từng cho rằng, mỗi cuốn sách mang một giá trị nào đó thì khi ra đời đều có một số phận riêng, giống như con người vậy. Điều này đúng với Thơm từ nỗi đau và tác giả tập thơ.
Đầu năm 2024, không có bất cứ dấu hiệu nào báo trước, bắt đầu từ những đêm mất ngủ, những cơn đau mơ hồ, Thụy Anh đi kiểm tra sức khỏe và choáng váng khi được thông báo mắc bệnh hiểm nghèo. Khi nhà văn Trương Anh Quốc biết được thông tin và thông báo trong nhóm zalo Ban Nhà văn trẻ của chúng tôi thì Thụy Anh đang điều trị ở Bệnh viện 175 TP Hồ Chí Minh được mấy tháng. Chị giữ kín việc nằm viện vì không muốn ai lo lắng cho mình, không nghe điện thoại, không trả lời tin nhắn, từ chối các cuộc thăm hỏi, tự mình can đảm và cứng cỏi đối mặt với bệnh tật.
Thế rồi trên facebook thấy xuất hiện một vài bức ảnh một Thụy Anh khác, tóc cắt ngắn, mặc áo nâu sồng, đi trong thiên nhiên cùng một số nhà sư. Điều gì đang xảy ra vậy? Ngày Thụy Anh trả lời tin nhắn là tin vui với tất cả nhóm chúng tôi. “Em sẽ cố gắng vượt qua và vươn về phía trước. Em tin sẽ không ngã khi có mọi người phía sau đỡ em”. Sau này Thụy Anh kể lại, bên cạnh kết hợp chữa bệnh bằng đông và tây y, chị bắt đầu một hành trình nội tâm tìm đến sự tĩnh tại. Trong hành trình ấy, chị được “trợ duyên” từ những người bạn cũ, nay là các sư nữ tu tập ở chùa Bình An ở huyện Triệu Phong (cũ), tỉnh Quảng Trị. Chị nhận ra những năm tháng qua đã chưa yêu thương đủ bản thân mình. Trong hiểm cảnh, chị thấy việc đến và đi của một đời người, về sự còn - mất bỗng trở nên rõ ràng, tự nhiên. Lương duyên phật pháp đã giúp chị vượt qua bi quan, sợ hãi. Trong chị dần xuất hiện một niềm tin mãnh liệt vào những điều kỳ diệu có thể sẽ đến, nếu mình bình tĩnh và thành tâm cố gắng. Điều kỳ diệu ấy không có gì siêu hình hay bí hiểm mà đã được y học lý giải, đó là sức mạnh tinh thần, sức mạnh của niềm tin có khả năng chữa lành tật bệnh không kém gì những phương thuốc quý.
Trong đó có một phương thuốc đặc biệt quan trọng: thi ca. “Hình tượng tôi vịn câu thơ mà đứng dậy được cho là của nhà thơ Phùng Quán đúng tuyệt đối với em” - Thụy Anh chia sẻ. Chị viết nhiều hơn, nhiều nhất là về thiên nhiên bởi vì chính thiên nhiên mang lại cho chị sự thư thái trong tâm hồn. Đọc những bài thơ viết giai đoạn này, được in trong Thơm từ nỗi đau, người đọc nhận ra trong đó chứa đựng một thứ ánh sáng luôn chiếu rọi, dẫn dắt và chỉ lối. Thức dậy mỗi sớm mai/thấy mình sinh ra lần nữa (Ngời), ý nghĩ không màu/cuốn sách thắp lên những chồi sáng/lung linh (Ánh sáng), ánh sáng viết tên mình xuống hiên nhà/dịu dàng đường non (Bài ca tháng giêng), mặt trời lăn vào bóng đêm/ánh sáng sinh ra/ xanh từ mặt đất xanh lên (Sự sống)...
Hoàng Thụy Anh chia sẻ, đó không phải là ánh sáng ta nhìn thấy hằng ngày mà là ánh sáng của nội tâm, thi ca và đức tin. Nó bảo với ta rằng, trong đời sống có rất nhiều thứ ta không thể biết trước, nhưng mỗi một lần vấp ngã hay hoạn nạn dường như lại mở ra
cho ta một lối đi mới mà lúc bình thường ta không bao giờ có được. Riêng trong trường hợp này, ánh sáng ấy đã mang lại cho nhà thơ sự hồi sinh theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, đưa chị trở về, tiếp tục bước đi trên con đường sáng tạo và tỏa hương từ chính nỗi đau.
Dễ nhận ra thơ Hoàng Thụy Anh mang dấu ấn chung của những nhà thơ có “gốc” lý luận phê bình như nhà thơ Trương Đăng Dung, Lê Thành Nghị..., đó là tính nghề nghiệp cao. Phải chăng, sự am hiểu lý luận phê bình đã có ảnh hưởng tích cực đến thơ, nhưng đồng thời cũng đặt ra những cái bẫy nếu người viết còn non tay hoặc quá tự tin. Chất trí tuệ, thông điệp tư tưởng phải đến với người đọc trên đôi cánh trữ tình mềm mại và lấp lánh ngôn ngữ thơ ca thì mới thành công.
Hiện nhà thơ Hoàng Thụy Anh vẫn tiếp tục hành trình vượt lên bệnh hiểm và đang làm biên tập viên mảng thơ và lý luận phê bình tại Tạp chí Nhật Lệ, tỉnh Quảng Trị.
Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu hai bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Hoàng Thụy Anh
Ánh sáng
những chiếc rễ ánh sáng
xuyên qua thành phố
xóa nỗi trống rỗng trên gương mặt người
mỗi bước đi
nở những hạt huyền diệu
trong khu vườn gió nắng và bầy chim sâu
vòm lộc vừng treo chùm âm thanh mùa thu
trên đôi cánh tiểu quỳnh
hương trà lãng du
ấp ủ bên chiếc bàn không màu
ý nghĩ không màu
cuốn sách thắp lên những chồi sáng
lung linh
như quà tặng thiêng liêng
làm trong suốt bóng tối
Mẹ
hoàng hôn ngấm mùi đất nâu
cánh chim chia nhau từng chớp mắt
như thể
một lần rạng ngời rồi thôi
à ơi bấm xuống cánh đồng
cánh đồng trở dạ những vì sao
những vì sao rỏ hai đầu mưa nắng
chan gầy giấc mơ
cả cuộc đời gói cho con
thức quà mùa xuân
mẹ còn lại
riêng mình bời bời đêm đông
ước cùng mẹ đưa nôi
lặn vào luống cày xa ngái
lấm bùn lời ru
mọc
khúc khích tiếng cười
HỮU VIỆT