Việt Nam cần thay đổi cách phân bổ nguồn lực, ưu tiên hạ tầng năng lượng, viễn thông, dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), để tăng trưởng hai con số không chỉ đạt về tốc độ mà còn bền vững. Đây là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo kinh tế vĩ mô năm 2026 với chủ đề “Việt Nam và giải bài toán tăng trưởng hai con số trong năm 2026”, do Trường Đại học Ngân hàng TPHCM tổ chức chiều 12/10.
Hội thảo diễn ra khi kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 đạt nhiều kết quả tích cực. Theo Bộ Tài chính, GDP quý III ước tăng 9,95%, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01%. Cả nước có 12/34 địa phương đạt tăng trưởng GRDP 9 tháng ở mức hai con số. Quảng Ninh, Hải Phòng và Bắc Ninh nằm trong nhóm dẫn đầu. GRDP TPHCM tăng 9,06%, Hà Nội tăng 8,85%.

TS Nguyễn Xuân Thành, chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam (Ảnh: Lê Tỉnh)
Ưu tiên hạ tầng và ứng dụng AI
Ông Nguyễn Xuân Thành, chuyên gia kinh tế, giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần thay đổi cách phân bổ nguồn lực để tạo thêm động lực tăng trưởng. Theo ông, Việt Nam vẫn còn dư địa vay nợ vì nợ công, nợ nước ngoài tổng thể và nợ nước ngoài thương mại đều ở mức thấp. Vấn đề quan trọng là chọn đúng lĩnh vực để đầu tư.
Ông Thành đề xuất ưu tiên ba nhóm hạ tầng: năng lượng, viễn thông và trung tâm dữ liệu. Trong đó, năng lượng là điểm nghẽn cấp bách nhất vì nhiều dự án nguồn điện triển khai chậm. Ở cả ba lĩnh vực này, Malaysia và Thái Lan đang đi trước Việt Nam: về năng lượng sạch, về mạng viễn thông thế hệ mới và về thu hút đầu tư vào trung tâm dữ liệu.
Với AI, ông cho rằng Việt Nam không nên chạy đua với Mỹ và Trung Quốc trong phát triển mô hình nền tảng (tức các mô hình AI tiên tiến nhất, đòi hỏi nguồn vốn và năng lực tính toán rất lớn). Thay vào đó, Việt Nam nên tập trung vào ứng dụng. Lợi thế của Việt Nam là tỷ lệ người dân và doanh nghiệp sử dụng AI cao. Rào cản lớn là “Trust AI”, tức niềm tin vào độ chính xác, an toàn, bảo mật và chi phí của các giải pháp AI.
“Doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có thể đảm nhận việc thử nghiệm, đánh giá và cung cấp các giải pháp AI đáng tin cậy cho SME (doanh nghiệp nhỏ và vừa). Khi giải quyết được bài toán niềm tin, AI có thể trở thành động lực nâng năng suất và hỗ trợ khu vực tư nhân tăng trưởng”, ông Thành nói.
Cùng quan điểm gắn công nghệ với năng suất, GS.TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM, cho rằng khi kinh tế và công nghệ thay đổi nhanh, tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các ngành và doanh nghiệp. Nền kinh tế có xu hướng phân hóa theo mô hình chữ K. Nhóm sớm thích ứng công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và nâng năng suất sẽ tăng trưởng nhanh, như nét đi lên của chữ K. Nhóm chậm thay đổi chịu sức ép ngày càng lớn, như nét đi xuống.

GS.TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM, phát biểu tại hội thảo (Ảnh: Lê Tỉnh).
Theo ông Trung, Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Doanh nghiệp cần tái cấu trúc cách sản xuất, quản trị và kinh doanh để tận dụng các công cụ mới, đặc biệt là AI. AI nên được xem là công cụ nâng năng suất, không chỉ là công nghệ thay thế lao động. Giá trị của AI phụ thuộc lớn vào năng lực người dùng, chất lượng dữ liệu và khả năng đưa công nghệ vào quy trình thực tế.
Quá trình này cũng đòi hỏi nguồn nhân lực thay đổi: người lao động và doanh nghiệp phải liên tục cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng số. “Nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, chuyển đổi số và AI cần được gắn trực tiếp với năng suất, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ”, GS.TS Nguyễn Đức Trung nói.
Tăng trưởng cao phải đi cùng năng lực nội sinh
Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Kinh tế Quốc dân, tăng trưởng hai con số với mức tối thiểu 10% mỗi năm cần được duy trì liên tục trong nhiều năm thì Việt Nam mới có thể thoát bẫy thu nhập trung bình. Riêng năm 2026, quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Tuy nhiên, theo đuổi tốc độ cao cũng đặt ra bài toán về chính sách vĩ mô.
Ông Đạt cho rằng việc đặt mục tiêu lạm phát khoảng 4,5% cho thấy sự chấp nhận mặt bằng giá cao hơn để đổi lấy tăng trưởng. Trong khi đó, lạm phát 9 tháng đã lên 4,52%. Bên cạnh đó, chi phí vốn của nền kinh tế có thể chịu thêm áp lực từ ba yếu tố: Chính sách tiền tệ “diều hâu” của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), tức ưu tiên thắt chặt và giữ lãi suất cao để kiềm chế lạm phát; biến động tỷ giá; và chi phí logistics (vận tải, kho bãi, phân phối).
Để đạt mục tiêu hai con số một cách bền vững, theo ông Đạt, nền kinh tế cần chuyển từ chỗ chỉ tích lũy vốn sang tích lũy năng lực nội sinh, tức năng lực tự thân của doanh nghiệp và nền kinh tế trong nước. Trọng tâm tăng trưởng phải là khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nâng TFP (năng suất các nhân tố tổng hợp, tức phần tăng trưởng đến từ công nghệ, quản trị và chất lượng lao động, không phải từ việc tăng thêm vốn hay số lao động).

GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Kinh tế Quốc dân (Ảnh: Lê Tỉnh).
Ông đề xuất mô hình 3I gồm ba bước nối tiếp: Đầu tư (Investment); tạo hiệu ứng lan tỏa (Infusion); thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Innovation) để nâng năng suất lao động.
Theo ông Đạt, AI giữ vai trò quan trọng nhưng cần được nhìn theo đường cong chữ S. Giai đoạn đầu cần đầu tư lớn mà hiệu quả chưa thấy ngay. Năng suất có thể tăng mạnh vào giai đoạn 2027–2028, trước khi dần chững lại. Thay vì chỉ “sản xuất AI”, Việt Nam cần hướng tới “tăng trưởng nhờ AI”, tức đưa công nghệ vào hoạt động thực tế để nâng năng suất lao động và tạo việc làm bền vững.
Ông Đạt cũng lưu ý không thể đánh giá tăng trưởng hai con số chỉ qua GDP, mà cần xem mức độ lan tỏa tới khu vực kinh tế trong nước. Dù GDP tăng trên 9%, khu vực FDI chiếm hơn 80% xuất khẩu và chuyển phần lớn lợi nhuận ra nước ngoài. Vì vậy, GNI (tổng thu nhập quốc dân, tức phần thu nhập mà người dân và doanh nghiệp Việt Nam thực nhận) có thể thấp hơn đáng kể so với GDP. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chịu nhiều sức ép: chi phí đầu vào tăng 27% nhưng doanh thu chỉ tăng 21%, sức mua giảm, và 75% doanh nghiệp khó tiếp cận vốn.
GS.TS Lê Quốc Hội, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Tổng biên tập Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, cảnh báo mục tiêu GDP tăng từ 10% trở lên mỗi năm giai đoạn 2026–2030 có thể tạo áp lực khiến các địa phương chạy theo sản lượng ngắn hạn. Biểu hiện có thể là đẩy giải ngân đầu tư công vượt ngưỡng hiệu quả, hoặc cạnh tranh ưu đãi cục bộ, tức đua nhau đưa ra ưu đãi để hút đầu tư về địa phương mình. Khi đó, ba nền tảng dài hạn là giáo dục, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế dễ bị xem nhẹ.
Theo ông Hội, Việt Nam cần chuyển từ gia công hàng hóa, vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế thế giới, sang “tăng trưởng nhờ AI” thông qua các ứng dụng thực tiễn. Về điều hành, chính sách tài khóa (thu chi ngân sách, thuế, đầu tư công) cần giữ vai trò chủ lực. Chính sách tiền tệ (lãi suất, tín dụng, tỷ giá) là công cụ bổ trợ, nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và giám sát rủi ro liên thông giữa ngân hàng, bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp sau giai đoạn tín dụng mở rộng. Rủi ro liên thông là tình trạng khó khăn ở một lĩnh vực lan sang các lĩnh vực còn lại.
Ở lĩnh vực thu hút FDI, 9 tháng qua vốn đăng ký đạt hơn 50 tỷ USD và vốn thực hiện đạt 21 tỷ USD. Tuy vậy, điểm nghẽn vẫn là khả năng lan tỏa công nghệ sang doanh nghiệp nội địa và sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ (ngành sản xuất linh kiện, nguyên vật liệu cho các ngành chế tạo).
Theo báo cáo chuyên khảo “Việt Nam và giải bài toán tăng trưởng hai con số trong năm 2026” vừa được Trường Đại học Ngân hàng TPHCM công bố, kết quả 9 tháng cho thấy nền kinh tế đang hình thành cấu trúc đa động lực. Tăng trưởng có sự đóng góp của chế biến - chế tạo, đầu tư, FDI, tiêu dùng và thương mại. Việt Nam cũng hưởng lợi từ việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và nhu cầu về điện tử, bán dẫn, hạ tầng AI.
Tuy nhiên, nền tảng cho tăng trưởng hai con số bền vững còn hạn chế ở nhiều mặt:
TFP và năng suất lao động chưa tăng mạnh.
FDI vẫn chi phối phần lớn xuất khẩu.
Chi cho R&D (nghiên cứu và phát triển) còn thấp.
Kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu, điện toán, năng lượng còn hạn chế.
Nhóm nghiên cứu đề xuất lộ trình hai giai đoạn:
Giai đoạn 2028–2030: chuyển từ tăng trưởng dựa vào đầu tư sang nâng năng lực hấp thụ, tức khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ. Trọng tâm là phát triển doanh nghiệp nội địa, kỹ năng số, R&D, cùng hạ tầng dữ liệu và điện toán dùng chung để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được AI với chi phí thấp.
Sau năm 2030: chuyển từ hấp thụ sang tạo ra công nghệ, tập trung vào bán dẫn, AI ứng dụng, phần mềm, fintech (công nghệ tài chính) và an ninh mạng. Mục tiêu là chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang tăng trưởng dựa vào năng suất và năng lực công nghệ.
Theo các chuyên gia, đây là những yếu tố quan trọng để mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đạt về tốc độ mà còn tạo ra hiệu quả thực chất và bền vững cho nền kinh tế.