Tạo chuyển biến về chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực quản trị, phát huy hiệu quả nguồn lực và tăng sức cạnh tranh là những định hướng lớn được Tuyên Quang đặt ra trong quá trình đổi mới mô hình phát triển.
Với Kế hoạch số 337/KH-UBND, tỉnh cụ thể hóa các mục tiêu và nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 217/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động số 69-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Điểm đáng chú ý của kế hoạch là tầm nhìn phát triển được xác định theo từng giai đoạn đến năm 2030, 2035 và 2045. Các mục tiêu không chỉ tập trung vào tốc độ tăng trưởng kinh tế mà được đặt trong mối quan hệ với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, văn hóa, an sinh xã hội, môi trường và năng lực quản trị.
Đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nâng chất lượng nền kinh tế
Trong giai đoạn 2026-2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu tốc độ tăng GRDP bình quân đạt 10,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đến cuối kỳ đạt 95 triệu đồng; năng suất lao động tăng bình quân 9,1%/năm. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP phấn đấu vượt 20%.
Ở các giai đoạn tiếp theo, tỉnh tiếp tục đặt mục tiêu duy trì mức tăng trưởng và nâng dần chất lượng thu nhập. Giai đoạn 2031-2035, tốc độ tăng GRDP bình quân dự kiến đạt 8%/năm, GRDP bình quân đầu người đạt 137 triệu đồng và tỷ trọng kinh tế số vượt 32%. Giai đoạn 2036-2045, các chỉ tiêu tương ứng là 7%/năm, 247 triệu đồng/người và trên 40% đối với kinh tế số.
Các chỉ tiêu này cho thấy định hướng phát triển của Tuyên Quang không chỉ hướng đến quy mô nền kinh tế mà còn chú trọng những yếu tố tạo ra tăng trưởng dài hạn, trong đó năng suất lao động và kinh tế số được xác định là những thành tố quan trọng.
Để hỗ trợ quá trình chuyển đổi, tỉnh đặt trọng tâm vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến năm 2030, Tuyên Quang phấn đấu có trên 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hơn 25% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo và trên 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số.
Cùng với đó, trên 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù của tỉnh được bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ. Chi ngân sách địa phương dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt trên 1,5%. Khoảng 80% cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc danh mục được phê duyệt được số hóa, kết nối và chia sẻ với các hệ thống của Trung ương.
Lấy đổi mới sáng tạo làm động lực
Trong mô hình phát triển mới, Tuyên Quang xác định doanh nghiệp là một trong những chủ thể quan trọng của quá trình đổi mới sáng tạo. Vì vậy, tỉnh hướng tới xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với những ngành, lĩnh vực ưu tiên và sản phẩm chủ lực.
Cùng với hỗ trợ doanh nghiệp, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ được quan tâm. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 600 cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ, tỷ trọng đào tạo các ngành STEM đạt 30%.
Trường Đại học Tân Trào cũng được định hướng phát triển thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của tỉnh và khu vực. Việc nâng cao năng lực của cơ sở giáo dục đại học được kỳ vọng tạo thêm nền tảng nhân lực cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Một hướng tiếp cận khác được tỉnh đưa vào kế hoạch là khai thác các không gian phát triển mới như kinh tế không gian ngầm và không gian tầm thấp; đồng thời triển khai các chiến lược liên quan đến trí tuệ nhân tạo, công nghiệp, năng lượng, dịch vụ và logistics. Đây là những lĩnh vực được đặt trong định hướng mở rộng dư địa phát triển của nền kinh tế trong dài hạn.
Nâng chất lượng quản trị, cải thiện môi trường kinh doanh
Cùng với các chỉ tiêu về kinh tế, cải thiện năng lực quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp là một nội dung quan trọng trong kế hoạch.
Đến năm 2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) xếp thứ 20/34 tỉnh, thành phố; chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) nằm trong nhóm từ thứ 15 đến 20/34 địa phương. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) hướng tới nhóm địa phương có chất lượng điều hành “khá;" chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt từ 80% trở lên và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) thuộc nhóm “khá."
Để đạt các mục tiêu này, tỉnh sẽ triển khai khung mô hình phát triển tổng quát, từng bước áp dụng khung chỉ số quản trị quốc gia tại địa phương, đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài.
Cách tiếp cận được đặt ra là gắn mục tiêu cải cách với hiệu quả thực tế của hoạt động quản lý, điều hành. Khi dữ liệu được số hóa, kết nối và chia sẻ, quá trình ra quyết định có thêm cơ sở, đồng thời tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công thuận lợi hơn.
Đổi mới mô hình phát triển được Tuyên Quang đặt trong mối quan hệ với các mục tiêu xã hội. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu quy mô dân số đạt khoảng 1,859 triệu người; tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt khoảng 50%, bảo hiểm thất nghiệp khoảng 35% và hướng tới 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế.
Tuổi thọ trung bình được đặt mục tiêu đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe tối thiểu đạt 68 năm. Những chỉ tiêu này được đặt song hành với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thị trường lao động hiện đại.
Ở lĩnh vực văn hóa, tỉnh phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,72 vào năm 2030, tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp văn hóa đạt 7%/năm và xây dựng 3 không gian văn hóa, sáng tạo, trải nghiệm tại những khu vực phù hợp.
Các mô hình văn hóa số, sáng tạo nội dung số, nghệ thuật số, du lịch di sản thông minh, kinh tế đêm và không gian sáng tạo cũng được nghiên cứu, triển khai phù hợp với điều kiện thực tế. Đây là hướng mở rộng vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế, đồng thời tạo thêm sản phẩm và không gian trải nghiệm cho người dân, du khách.
Mở rộng hợp tác, chủ động hội nhập
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, Tuyên Quang cũng đặt mục tiêu tăng cường kết nối quốc tế để thu hút nguồn lực, công nghệ và kinh nghiệm phục vụ phát triển.
Hằng năm, tỉnh phấn đấu ký kết mới từ 3-5 chương trình hợp tác quốc tế, kết nối từ 10-20 đối tác quốc tế mới. Các lĩnh vực được ưu tiên gồm đầu tư, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và những ngành, lĩnh vực tỉnh có nhu cầu hoặc lợi thế.
Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, kế hoạch đặt ra nhiệm vụ xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc phòng, hệ thống chỉ huy - điều hành số, đồng thời tăng cường năng lực phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ an ninh. Các nền tảng số dùng chung phục vụ quản lý, điều hành, giám sát và dự báo cũng được định hướng phát triển.
Để các mục tiêu không dừng ở định hướng, Kế hoạch số 337/KH-UBND xác định 40 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trên nhiều lĩnh vực. Mỗi nhiệm vụ được gắn với chức năng của cơ quan, đơn vị, địa phương, thời gian thực hiện, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của cơ quan chủ trì.
Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị và Ủy ban Nhân dân các xã, phường chủ động cụ thể hóa kế hoạch thành chương trình, kế hoạch công tác; xác định rõ tiến độ, trách nhiệm và kết quả cần đạt. Công tác kiểm tra, giám sát và phối hợp giữa các cơ quan được tăng cường nhằm kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Sở Tài chính được giao theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thực hiện và báo cáo Ủy ban Nhân dân tỉnh theo quy định.
Với cách tiếp cận này, đổi mới mô hình phát triển được Tuyên Quang đặt trong một khung tổng thể, từ tăng trưởng kinh tế, khoa học công nghệ, quản trị đến con người, văn hóa và môi trường. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là đạt những con số tăng trưởng cao hơn, mà tạo ra những thay đổi về chất trong cách huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất, quản trị xã hội và khai thác tiềm năng địa phương./.
(Vietnam+)