Chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, bảo vệ rừng là một trong những hướng đi chiến lược, ưu tiên hàng đầu của ngành lâm nghiệp và kiểm lâm tỉnh Cà Mau, nhất là khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đi vào cuộc sống. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa ngành, mà còn nâng cao hiệu quả giám sát tài nguyên rừng trong bối cảnh địa bàn rộng, lực lượng bảo vệ rừng còn hạn chế.
Phát huy vai trò số hóa
Tỉnh Cà Mau có hơn 95.365ha rừng, trong đó rừng đặc dụng và rừng phòng hộ chiếm hơn 42.185ha, số còn lại là rừng sản xuất. Đặc biệt, hệ sinh thái rừng nơi đây rất đa dạng, phong phú về các loài động vật, thực vật với đặc trưng của rừng ngập mặn và ngập ngọt.
Vì vậy, để giám sát, quản lý và bảo vệ hiệu quả diện tích rừng trên địa bàn, ngành lâm nghiệp và kiểm lâm tỉnh Cà Mau đã rà soát các hệ thống, cơ sở dữ liệu lâm nghiệp đang khai thác, làm rõ tình trạng hoạt động, đơn vị quản lý, khả năng kết nối và nhu cầu tiếp tục hoàn thiện. Dữ liệu diễn biến rừng được cập nhật trên hệ thống của ngành theo kết quả kiểm tra, xác minh; thông tin cảnh báo được tiếp nhận, kiểm tra và cập nhật kết quả xử lý. Dữ liệu về các cơ sở nuôi động vật hoang dã, bảng kê lâm sản và xử lý vi phạm được cập nhật thường xuyên trên phần mềm, gắn với quá trình giải quyết công việc và thủ tục hành chính.
Ông Đặng Quang Khởi, Hạt trưởng Kiểm lâm Năm Căn (Cà Mau) cho biết: Trước đây, để quản lý, bảo vệ tốt 12.000ha rừng với 12 người của đơn vị thì việc nắm tình hình chủ yếu dựa vào tuần tra, kiểm tra trực tiếp và định kỳ báo cáo bằng văn bản nên mất nhiều thời gian và nhân lực. Hiện nay, những quy trình này đã được thay thế bởi các phần mềm như: FRMS (theo dõi diễn biến rừng), FORMIS (quản lý thông tin ngành lâm nghiệp) và VN-Forest Alert (hệ thống cảnh báo mất rừng sớm)… giúp phát hiện sớm biến động, xử lý nhanh các vi phạm về rừng nên rút ngắn thời gian, tiết kiệm nhân lực khoảng 60% so quy định. Ngoài ra, để hỗ trợ quản lý hiệu quả khoảng 400 cơ sở nuôi động vật hoang dã (với 6.000 cá thể thuộc nhóm IIB) trên địa bàn, đơn vị đã sử dụng phần mềm chuyên dụng.
Trong khi đó, để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong quản lý, bảo vệ rừng, tại Vườn quốc gia U Minh Hạ sử dụng hệ thống camera chuyên dụng, flycam để quan sát từ trên cao nhằm phát hiện sớm các vụ vi phạm, cháy rừng. Quá trình kiểm tra thực địa, lực lượng kiểm lâm đã sử dụng điện thoại thông minh có cài đặt bản đồ số giúp xác định chính xác vị trí cần kiểm tra.
Đối với Vườn quốc gia Mũi Cà Mau hệ thống camera chuyên dụng hỗ trợ giám sát quản lý, bảo vệ rừng, biển và khu vực bãi bồi cũng bắt đầu đi vào hoạt động. Qua đó, giúp các cán bộ của Vườn kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi khai thác thủy sản trái phép, chặt phá rừng và xâm nhập khu vực cần bảo vệ…
Theo Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm Cà Mau Trương Việt Bắc, ứng dụng công nghệ trong quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh được thực hiện từng bước, xuất phát từ yêu cầu thực tế của công tác theo dõi diễn biến rừng, quản lý bản đồ hiện trạng rừng và xác định vị trí ngoài thực địa. Sau đó mở rộng sang tiếp nhận thông tin cảnh báo mất rừng, cảnh báo cháy rừng và quản lý dữ liệu chuyên ngành.
Hiện nay, việc ứng dụng các công nghệ hiện đại (như camera AI, thiết bị định vị, phần mềm theo dõi diễn biến rừng, công nghệ giám sát từ xa/flycam...) đã trở thành giải pháp đột phá, giúp tối ưu hóa nhân lực, nâng cao độ chính xác và tính kịp thời trong việc phát hiện, xử lý các vi phạm về rừng; đồng thời, cung cấp nguồn dữ liệu phục vụ đánh giá hiện trạng, định hướng trong việc xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Khắc phục khó khăn để phát triển
Bên cạnh những kết quả bước đầu, quá trình chuyển đổi số của ngành cũng tồn tại những khó khăn, hạn chế như: Dữ liệu rừng có dung lượng lớn, được hình thành qua nhiều thời kỳ cho nên việc cập nhật phụ thuộc vào kết quả kiểm tra, xác minh thực tế. Nhiều biến động trên ảnh hoặc hệ thống cảnh báo thay đổi hiện trạng rừng hoặc sai lệch dữ liệu cho nên phải kiểm tra thực địa trước khi kết luận. Hệ thống máy chủ phần lớn do Trung ương hoặc đơn vị khác quản lý, nên địa phương chưa thể nâng cấp, kết nối và kịp thời chia sẻ dữ liệu; khả năng liên thông giữa các hệ thống còn hạn chế.
Phó Giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau Lý Minh Kha cho biết, thực tế cũng có một số khó khăn, như: địa bàn rộng, đặc thù gồm rừng, biển và bãi bồi, nhiều khu vực xa trung tâm cho nên việc kết nối mạng, truyền tải và cập nhật dữ liệu ngoài thực địa còn hạn chế. Cơ sở hạ tầng, thiết bị công nghệ và phần mềm phục vụ quản lý, bảo vệ rừng chưa đồng bộ; kinh phí đầu tư còn ít. Trình độ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của viên chức chưa đồng đều; dữ liệu còn phân tán, chưa được chuẩn hóa và tích hợp thành cơ sở dữ liệu thống nhất.
Để công tác ứng dụng công nghệ số trong quản lý, bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phạm Văn Mười cho biết, thời gian tới, lãnh đạo Sở sẽ chỉ đạo ngành lâm nghiệp và kiểm lâm tỉnh, các chủ rừng tập trung hoàn thiện dữ liệu số theo hướng đúng, đủ, sạch, sống. Từ đó, từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu nhằm phục vụ các công tác chỉ đạo, điều hành dựa trên cơ sở dữ liệu; tăng cường phối hợp giữa các đơn vị, chủ rừng và chính quyền địa phương trong việc ứng dụng công nghệ số kết hợp với tuần tra, kiểm tra thực địa…
Đặc biệt, ngành lâm nghiệp và kiểm lâm chú trọng đào tạo, nâng cao kỹ năng số cho lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng. Đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thiết bị công nghệ theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời, đánh giá kết quả thí điểm camera chuyên dụng tại các vườn quốc gia làm cơ sở xem xét nhân rộng ra các đơn vị cùng thực hiện.
NGỌC HIẾU-THƯỜNG TÙNG