Bỏ qua điều hướng

Vì sao bài thơ 'Bắt nạt' lại tạo sóng tranh cãi?

Vì sao bài thơ 'Bắt nạt' lại tạo sóng tranh cãi?
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Bài thơ "Bắt nạt" của Nguyễn Thế Hoàng Linh tiếp tục gây tranh luận sau 5 năm xuất hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6. Một bên nhấn mạnh thông điệp tích cực, ngôn ngữ gần gũi và mục tiêu phòng chống bạo lực học đường. Bên còn lại chỉ ra những câu thơ ngô nghê, vần điệu gượng ép, logic ngữ nghĩa...

Vấn đề đáng bàn hơn ở đây, theo các chuyên gia, là một văn bản cần đáp ứng những tiêu chuẩn nào để có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn.

Một thông điệp đúng đắn có đủ bù đắp cho giới hạn nghệ thuật? Học sinh - đối tượng trực tiếp đọc và học tác phẩm - thực sự tiếp nhận bài thơ ra sao? Và một sáng tác đương đại cần trải qua bao nhiêu thử thách của thời gian trước khi trở thành ngữ liệu giáo dục?

Thông điệp không thể thay thế nghệ thuật

Không ai phủ nhận thông điệp “đừng bắt nạt” là cần thiết, nhất là khi bạo lực học đường vẫn là vấn đề khiến gia đình và nhà trường lo lắng. Tuy nhiên, sòng phẳng mà nói, sự đúng đắn về đạo đức chưa tự động tạo ra giá trị văn chương.

Nếu tiêu chí đầu tiên của một tác phẩm trong sách Ngữ văn chỉ là thông điệp tốt, thì đâu sẽ là ranh giới giữa thơ và một bài tuyên truyền có vần? Văn học không đơn thuần là lời răn đạo đức. Nó phải làm cho người đọc nhận ra điều ấy bằng hình tượng, cảm xúc, nhịp điệu và sức ám gợi của ngôn từ.

Bắt nạt lựa chọn cách nói trực tiếp, liên tục phủ định hành vi bắt nạt rồi đề xuất những hoạt động khác như học hát, nhảy hip hop hay ăn mù tạt. Cách viết có thể tạo cảm giác vui tai đối với một bộ phận người đọc. Tuy nhiên, chính sự liên kết không mấy chặt chẽ giữa các hình ảnh cũng khiến bài thơ bị đặt câu hỏi về tính nhất quán của cảm xúc và tư duy nghệ thuật.

bn1.jpg
bn2.jpg

Câu “Vì bắt nạt rất hôi” được Nguyễn Thế Hoàng Linh giải thích là một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, gợi liên tưởng đến thứ bẩn thỉu, khiến người khác muốn tránh xa. Cách giải thích làm rõ dụng ý của tác giả, nhưng dụng ý không tự bảo đảm hiệu quả thẩm mỹ.

Một hình ảnh chỉ thực sự có sức sống khi tự tạo được liên tưởng trong văn bản, không phải chờ người viết đứng bên cạnh thuyết minh.

“Trong nghiên cứu văn chương, ý định sáng tác chỉ là căn cứ tham khảo, không phải phán quyết cuối cùng. Tác giả có quyền giải thích vì sao chọn chữ ‘hôi’, còn người đọc có quyền nhận xét chữ ấy bất ngờ, trẻ thơ hay khiên cưỡng. Nếu mọi nghi vấn về một câu thơ đều được hóa giải bằng lời diễn giải của người viết, đối tượng được đánh giá lúc đó không còn là văn bản, mà là bản thuyết minh đi kèm. Sách giáo khoa càng cần phân biệt rạch ròi giữa thiện ý, thông điệp và thành tựu nghệ thuật. Một bài thơ đúng về đạo đức vẫn có thể chưa đạt về nghệ thuật”, TS. ngữ văn Đặng thị Thủy Sam phân tích.

Sao không hỏi học sinh?

Nguyễn Thế Hoàng Linh cho rằng hiệu quả của bài thơ có thể được khảo sát sau 5 năm giảng dạy. Đây là đề xuất hợp lý, bởi mọi lời bảo vệ hoặc phản đối sẽ thiếu một căn cứ quan trọng nếu tiếng nói học sinh tiếp tục vắng mặt.

Trong phần lớn tranh luận hiện nay, người lớn đang nói thay trẻ em. Nhà thơ khẳng định sử dụng ngôn ngữ trẻ thơ. Nhà phê bình đánh giá ngôn từ ngô nghê. Giáo viên tìm phương pháp chuyển tải. Phụ huynh so sánh bài thơ với những tác phẩm từng học. Nhưng ít người hỏi học sinh lớp 6 còn nhớ gì sau tiết học, thích hay không thích câu nào, hiểu quan hệ giữa “mù tạt”, “hip hop” với bắt nạt ra sao.

bn3.png
Học sinh cũng cần được hỏi ý kiến quanh bài thơ Bắt nạt.

Theo TS. Thủy Sam, một cuộc khảo sát nghiêm túc không nên chỉ hỏi học sinh “có thích bài thơ không”. Câu hỏi ấy quá đơn giản và dễ bị chi phối bởi giáo viên, điểm số hoặc tâm lý trả lời cho xong. Cần kiểm tra ít nhất ba tầng tiếp nhận: học sinh nhớ được gì, hiểu được gì và có rung động thẩm mỹ nào sau khi học.

Cần phân biệt hiệu quả của bài thơ với hiệu quả của tiết dạy. Khi giáo viên dành phần lớn thời gian để hướng dẫn kỹ năng phòng tránh bắt nạt, học sinh có thể thu nhận được một bài học hữu ích. Thành công đó trước hết thuộc về phương pháp sư phạm. Nhưng nó chưa đủ chứng minh bản thân văn bản đạt chất lượng nghệ thuật cần thiết.

Băn khoăn đưa tác phẩm đương đại vào sách quá sớm

Việc đưa sáng tác đương đại vào sách giáo khoa mang lại nhiều lợi ích. Học sinh được tiếp xúc với đời sống đang diễn ra, những vấn đề gần gũi và ngôn ngữ không quá xa cách. Một chương trình chỉ quanh quẩn với tác phẩm đã kinh điển hóa dễ tạo cảm giác văn học là thế giới đóng kín, không liên quan hiện tại.

Tuy nhiên, tác phẩm càng gần thời điểm tuyển chọn càng thiếu độ lùi cần thiết để đánh giá sức bền. Sự mới mẻ dễ bị nhầm với giá trị lâu dài. Tính thời sự cũng có thể lấn át tiêu chuẩn nghệ thuật, nhất là khi tác phẩm chạm đúng một chủ đề đang được xã hội quan tâm.

Độ lùi ở đây không nhất thiết phải tính bằng vài chục năm. Nó nên được hiểu là quá trình thử thách qua nhiều nhóm độc giả, sự thẩm định của giới chuyên môn và khả năng đứng vững trước những cách đọc khác nhau.

Tác phẩm được đưa vào sách không cần trở thành kinh điển, nhưng phải đủ chắc chắn về mặt ngôn ngữ, cấu trúc và giá trị thẩm mỹ để giáo viên không liên tục phải “giải cứu” văn bản bằng những phần diễn giải bên ngoài.

Sau 5 năm xuất hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, bài thơ "Bắt nạt" của Nguyễn Thế Hoàng Linh tiếp tục tạo nên làn sóng tranh luận gay gắt giữa hai luồng ý kiến trái chiều. Trong khi một bên đánh giá cao thông điệp phòng chống bạo lực học đường cùng ngôn ngữ gần gũi, phía ngược lại chỉ ra những hạn chế về vần điệu gượng ép và tư duy nghệ thuật ngô nghê. Cuộc tranh cãi này đặt ra bài toán lớn cho các nhà làm chương trình về tiêu chuẩn thẩm định văn bản đưa vào giảng dạy cho học sinh. Nhiều chuyên gia khẳng định sự đúng đắn về mặt đạo đức chưa thể tự động tạo nên giá trị văn chương đích thực cho một tác phẩm giáo khoa. Theo TS. Ngữ văn Đặng Thị Thủy Sam, việc tuyển chọn tác phẩm cần phân biệt rạch ròi giữa thiện ý, thông điệp với thành tựu nghệ thuật bởi một bài thơ đúng về đạo đức vẫn có thể chưa đạt về nghệ thuật. Việc tác giả giải thích câu thơ "Vì bắt nạt rất hôi" như một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác chỉ mang tính tham khảo chứ không thể thay thế cho hiệu quả thẩm mỹ của văn bản. Sự liên kết không mấy chặt chẽ giữa hành vi bắt nạt với các hoạt động như học hát, nhảy hip hop hay ăn mù tạt cũng khiến bài thơ bị nghi ngờ về tính nhất quán của tư duy nghệ thuật. Cách viết liên tục phủ định trực tiếp có thể tạo cảm giác vui tai nhưng lại thiếu đi sức ám gợi và chiều sâu cảm xúc cần thiết của văn học. Nguyễn Thế Hoàng Linh cho rằng hiệu quả của tác phẩm có thể được khảo sát sau 5 năm giảng dạy nhằm đưa tiếng nói của học sinh vào cuộc tranh luận. Trong phần lớn ý kiến tranh cãi hiện nay, người lớn đang nói thay trẻ em mà chưa thực sự hỏi học sinh lớp 6 về khả năng tiếp nhận bài thơ. Việc lắng nghe trực tiếp đánh giá của học sinh sẽ mang lại căn cứ quan trọng để nhìn nhận lại vị trí của một sáng tác đương đại trong nhà trường.