
Tàu thuyền neo đậu quanh eo biển Hormuz - Ảnh: REUTERS
Theo công ty dữ liệu hàng hải Kpler, từ ngày 1 đến 28-9, vùng Vịnh xuất khẩu ít nhất 16,5 triệu thùng dầu thô mỗi ngày. Nếu không tính Iran, con số này đã ngang mức bình quân trước chiến sự.
Thế nhưng giá dầu Brent vẫn neo trên 100 USD/thùng, còn giá diesel lập kỷ lục ở cả Mỹ (6,53 USD/gallon hôm 22-9) lẫn Liên minh châu Âu (EU).
Nghịch lý này nằm ở chỗ "giá dầu" thực chất gồm hai thị trường: giá Brent của dầu thô - nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu và giá diesel - nhiên liệu đã qua tinh chế.
Trong đó, dầu thô đã có đường ra nhưng chưa đủ bù lượng thiếu hụt, trong khi diesel thì đang thiếu càng thêm thiếu.
Nhờ đâu mà dầu thô ra khỏi vùng Vịnh được?
Ông Richard Meade, Tổng biên tập tạp chí hàng hải Lloyd's List, bình luận về việc lượng dầu thô rời vùng Vịnh tăng mạnh trong thời gian qua: "Xuất khẩu tăng không có nghĩa eo biển Hormuz đã an toàn. Điều đó chỉ cho thấy ngành dầu đã quen xoay xở quanh mối nguy hiểm ấy".
Theo Đài Al Jazeera, cách xoay xở đầu tiên là nhờ những đường ống dẫn dầu của Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE).
Ngay khi chiến sự Mỹ - Israel - Iran bùng nổ, Riyadh đã tăng cường bơm dầu sang cảng Yanbu bên bờ Biển Đỏ, trong khi Abu Dhabi cũng đưa dầu tới cảng Fujairah bên vịnh Oman.
Trong những tháng tiếp theo, hai nước này tiếp tục mở rộng năng lực vận chuyển của các đường ống trên. Theo Kpler, đến nay khoảng 40% dầu thô vùng Vịnh không cần qua Hormuz, so với chỉ 17% trước chiến tranh.

Tin tức thế giới 2-10: Ông Trump dọa đánh Iran 'rất mạnh' nếu dính líu vụ Flydubai; Siêu tàu bị tấn công tại HormuzĐỌC NGAY
Cách xoay xở thứ hai là dùng hệ thống tàu trung gian để mạo hiểm đưa tàu ra khỏi eo biển Hormuz.
Thực chất, điều trực tiếp khiến tàu bè không thể ra vào eo biển Hormuz lúc này là chi phí bảo hiểm hàng hải tăng quá cao. Thậm chí nhiều đơn vị còn từ chối bán bảo hiểm cho tàu thuyền trong khu vực này.
Không có bảo hiểm, không một tàu thương mại nào dám đi qua đây.
Theo Al Jazeera, nhiều nước đã chấp nhận rủi ro, tự sử dụng sự bảo trợ của nhà nước để bảo hiểm cho đội tàu của mình, phần lớn là siêu tàu chở dầu (VLCC). Những tàu này tắt tín hiệu, âm thầm chở dầu đi men bờ biển Oman theo tuyến nam eo biển Hormuz - tuyến biển bị Iran gọi là "không an toàn" và không được phép đi qua.
Ra khỏi eo biển Hormuz, các tàu này gặp và bơm dầu thô sang tàu thương mại chờ sẵn. Sau đó, các tàu thương mại tỏa ra khắp thế giới để giao dầu như thông thường.
Theo Kpler, hơn 70% dầu thô qua Hormuz trong tháng 8 đã được chuyển tải theo cách này.
Dầu diesel không thể đi đường đó!

Một con tàu di chuyển qua eo biển Hormuz, đoạn ngoài khơi phía nam Iran, hồi đầu tháng 9 - Ảnh: AFP
Dù vậy, lượng dầu quay lại chưa đủ kéo giá dầu thô xuống. Không chỉ phục vụ sản xuất và sinh hoạt, dầu được đưa ra thị trường hiện còn được dùng để lấp đầy lại các kho dự trữ quốc gia - vốn đã bị dùng cạn trong nhiều tháng qua.
Những biện pháp trên cũng mới chỉ giải quyết khó khăn cho thị trường dầu thô, còn dầu diesel vẫn "giậm chân tại chỗ".
Theo IEA, xuất khẩu ròng diesel của vùng Vịnh trong tháng 8 vẫn chỉ bằng hơn 1/4 mức trước chiến tranh.
Gốc rễ nằm ở nhà máy lọc dầu. Hiện tổng công suất lọc dầu ở vùng Vịnh bị gián đoạn đã lên đến gần 3 triệu thùng/ngày, phần lớn do bị tấn công. Các nhà máy còn nguyên vẹn cũng không chạy hết công suất vì bồn chứa thành phẩm đã đầy mà không xuất đi đâu được.
Những cách xoay xở với dầu thô cũng không thể áp dụng với dầu diesel. Các đường ống dẫn của Saudi Arabia và UAE chỉ được thiết kế cho dầu thô, trong khi những loại tàu được dùng trong các nhiệm vụ trung chuyển liều lĩnh cũng không thể chở dầu diesel.
Là sản phẩm tinh chế, dầu diesel cần được chở trong các "tàu sạch" với bồn chứa có tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn tàu chở dầu thô. Các tàu này cũng thường có kích cỡ nhỏ hơn và mặt hàng dầu diesel lại dễ cháy và nguy hiểm hơn.
Với bản chất mỗi chuyến đi là một lần đánh cược, việc chở dầu thô được xem là phương án hài hòa hơn giữa lợi ích kinh tế và rủi ro.
Bên cạnh những vấn đề Trung Đông, thị trường dầu diesel thế giới còn chịu tác động bởi chiến sự Nga - Ukraine.
Các cuộc tấn công liên tục vào cơ sở năng lượng Nga của Ukraine đã khiến Nga - nước từng chiếm khoảng 10% xuất khẩu diesel toàn cầu - ra lệnh cấm xuất khẩu diesel. Lệnh cấm này đã được gia hạn đến ít nhất hết tháng 10.
Trong hoàn cảnh đó, khoảng cách giữa giá dầu diesel và dầu thô ngày một tăng. Hồi tháng 8, Ngân hàng Morgan Stanley ghi nhận mức chênh lệch giữa giá dầu diesel và dầu Brent đã lên đến 75 USD/thùng, mức cao kỷ lục.
Theo IEA, giá diesel cao đã đẩy biên lợi nhuận lọc dầu cũng lên mức kỷ lục, khiến các nhà máy càng có động lực mua dầu thô.
Sức ép trước bầu cử

Diễn biến giá dầu cuối năm phụ thuộc không nhỏ vào những quyết định của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump, cũng như hiệu quả của nỗ lực giảm giá dầu trước thềm bầu cử giữa kỳ - Ảnh: AFP
Theo khảo sát của Hãng tin Reuters ngày 30-9, giá Brent bình quân năm 2026 được dự báo ở mức 89,05 USD/thùng.
Diễn biến giá dầu cuối năm phụ thuộc trước hết vào diễn biến đàm phán Mỹ - Iran. Ngân hàng HSBC cảnh báo nếu bế tắc kéo dài, dầu Brent có thể trở lại mức 120 USD/thùng.
Ngược lại, giá dầu có thể hạ nếu Nhà Trắng thành công trong nỗ lực giảm giá nhiên liệu trước bầu cử giữa kỳ đầu tháng 11.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Donald Trump đã kêu gọi Nga và Ukraine ngừng tấn công cơ sở năng lượng của nhau. Tuy nhiên nỗ lực này dường như không được hai bên hưởng ứng thực chất.
Washington cũng đang thúc giục Đức và Pháp xả kho diesel dự trữ, kèm cảnh báo có thể hạn chế xuất khẩu diesel của Mỹ nếu không tuân thủ. Giới phân tích cảnh báo điều này có thể khiến thị trường diesel thế giới thêm xáo trộn.
EU sẽ họp khẩn ngày 2-10 nhằm tìm tiếng nói chung trước tình trạng giá dầu diesel tăng mạnh, trong lúc Mỹ thúc giục các đồng minh châu Âu sử dụng nguồn dự trữ chiến lược để giúp hạ nhiệt giá nhiên liệu.