Bỏ qua điều hướng
•

Vì sao gọi cây ô môi?

Vì sao gọi cây ô môi?
Nguồn ảnh: VTC News

Cây ô môi được mệnh danh là "hoa anh đào miền Tây", vẻ đẹp của nó chinh phục bất kỳ ai từng chiêm ngưỡng, nhưng ít người biết ý nghĩa tên gọi này.

Loài cây này có tên khoa học Cassia grandis có nguồn từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, nổi tiếng với những chùm hoa màu hồng rực rỡ. Khi được trồng ở Việt Nam, nó được người dân gọi với cái tên rất độc đáo: Cây ô môi.

Cây ô môi được trồng phổ biến ở miền Tây Nam Bộ.

Cây ô môi được trồng phổ biến ở miền Tây Nam Bộ.

Đặc điểm của cây ô môi

Cây ô môi (cốt khí, bọ cạp nước, brai xiêm...) thuộc họ đậu, chiều cao trung bình 10 - 20 m, thân màu nâu đen, nhẵn. Cành ô môi non thường có lớp lông mịn màu rỉ sắt.

Lá ô môi thon dài, dạng kép lông chim với 10 - 20 đôi lá phụ. Hai đầu lá tròn, mặt trên của lá xanh bóng, nổi gân rõ và phủ lông mịn.

Hoa của cây ô môi mọc thành chùm bao gồm những cụm hoa lớn, màu hồng tươi, mọc ra từ nách lá đã rụng. Các chùm hoa thường rũ xuống dưới với chiều dài 20 - 40cm.

Hoa ô môi thường nở rộ vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 hàng năm. Khi đến mùa, cây sẽ trút sạch lá và bao phủ bởi những chùm hoa màu hồng đào hoặc hồng phấn tuyệt đẹp, khiến nhiều người ví loài cây này như “hoa anh đào của miền Tây”.

Hoa ô môi có màu hồng phấn rất đẹp.

Hoa ô môi có màu hồng phấn rất đẹp.

Quả ô môi có dạng hình trụ dài, cong nhẹ, dài khoảng 40-60 cm, khi già chuyển sang màu nâu đen thẫm, vỏ rất cứng. Bên trong quả được chia thành nhiều ô nhỏ xếp dẹt, chứa hạt và phần thịt quả màu đen, vị ngọt thanh pha chút nồng, là món ăn vặt gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ người dân Nam Bộ.

Vì sao gọi là cây ô môi?

Tên gọi cây ô môi là một sản phẩm độc đáo từ cách tư duy mộc mạc và trực quan của người dân gian Nam Bộ. Cho đến nay, có hai cách giải thích phổ biến nhất về nguồn gốc của cái tên này.

Cách gọi đầu tiên dựa vào hiện tượng khi ăn quả. Từ “ô” có nghĩa là màu đen. Quả ô môi khi chín có phần thịt (cơm) màu đen thẫm, đặc sệt và bao quanh các hạt.

Còn từ “môi” có nghĩa là môi người. Khi trẻ con hay người lớn ăn loại quả vặt này, phần mật đen của quả bám chặt vào môi, khiến đôi môi từ hồng hào chuyển thành một màu đen thui. Từ hình ảnh hài hước “ăn quả này vào đen cả môi”, dân gian gọi trại dần thành ô môi.

Bên trong quả ô môi.

Bên trong quả ô môi.

Cách giải thích thứ hai cho tên gọi ô môi dựa vào cấu trúc bên trong của quả. Quả ô môi có hình trụ dẹt, rất dài (từ 40 - 60cm). Khi bổ dọc quả ra, cấu trúc bên trong được chia thành hàng chục “ô” nhỏ đều tăm tắp.

Gắn liền với mỗi ô này là một miếng thịt quả mỏng tròn bao quanh hạt, dân gian gọi các miếng thịt quả này là “môi” (môi cơm). Sự kết hợp giữa các “ô” và các “môi” tạo nên tên gọi cho loài cây này.

Dù giải thích theo cách nào thì cái tên ô môi cũng gắn liền với hình ảnh một loại quả thanh đạm, một món “kẹo quê” đen nhẻm nhưng ngọt ngào ngấm sâu vào ký ức tuổi thơ của bao thế hệ người dân miền sông nước.

Hoa và quả của cây ô môi.

Hoa và quả của cây ô môi.

Tác dụng của cây ô môi

Ngoài việc cho bóng mát và làm đẹp cảnh quan, tất cả các bộ phận của cây ô môi từ quả, lá cho đến vỏ cây đều là những vị thuốc trị bệnh rất hiệu quả, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa và xương khớp.

Bộ phận được dùng làm thuốc nhiều nhất là phần cơm (thịt) màu đen của quả ô môi chín. Khác với tính vị của nhiều loại quả khác, cơm quả ô môi có vị ngọt, tính ấm. Người ta thường dùng cơm quả ô môi ngâm với rượu (gọi là rượu ô môi). Uống một ly nhỏ loại rượu này trước bữa ăn giúp bổ tỳ vị, kích thích thèm ăn và giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.

Rượu ô môi cũng là bài thuốc quen thuộc của người miền Tây để trị chứng đau lưng, mỏi gối, tê thấp ở người già.

Cơm quả ô môi chứa nhiều chất xơ tự nhiên và các hoạt chất có tác dụng nhuận tràng nhẹ. Khi bị táo bón, chỉ cần sắc cơm quả với nước uống, hệ tiêu hóa sẽ được cải thông rất nhanh mà không gây tác dụng phụ.

Hạt ô môi bên trong quả khi đem ngâm nước nóng cho bong vỏ, lấy phần nhân bên trong nấu với đường thốt nốt sẽ tạo thành món chè có tác dụng chữa ho và thanh nhiệt cơ thể. Lá ô môi có chứa các chất kháng khuẩn tự nhiên nên thường được dùng để điều trị các bệnh ngoài da như ngứa, ghẻ lở, hắc lào...

Các bộ phận của cây ô môi được dùng làm thuốc.

Các bộ phận của cây ô môi được dùng làm thuốc.

Dù là vị thuốc lành tính, nhưng do quả ô môi có tính nhuận tràng mạnh, phụ nữ đang mang thai, trẻ em quá nhỏ hoặc những người đang bị tiêu chảy, tỳ vị hư hàn không nên sử dụng các bài thuốc từ loại quả này để tránh làm tình trạng nghiêm trọng hơn.

Cây ô môi có tên khoa học là Cassia grandis, loài thực vật thân gỗ thuộc họ đậu có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ và phân bố phổ biến tại miền Tây Nam Bộ. Cứ vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 hàng năm, cây trút sạch lá để bung nở những chùm hoa rủ dài màu hồng phấn rực rỡ, tạo nên cảnh sắc đặc trưng khiến loài cây này được ví von như hoa anh đào của miền sông nước. Trái ngược với sắc hoa kiều diễm, quả ô môi dáng hình trụ dài từ 40 đến 60 cm, khi già chuyển sang màu nâu đen thẫm với lớp vỏ cứng cáp. Tên gọi ô môi xuất phát từ tư duy trực quan của người bình dân qua hai giả thuyết phổ biến. Giả thuyết thứ nhất bắt nguồn từ hiện tượng phần thịt quả đen sệt bám vào môi người thưởng thức khiến môi chuyển sang màu thẫm, còn giả thuyết thứ hai căn cứ vào cấu trúc ruột quả chia thành nhiều ô ngăn cách các miếng thịt dẹt bao quanh hạt được gọi là môi. Bên cạnh giá trị làm đẹp cảnh quan và gắn liền với ký ức tuổi thơ qua món ăn vặt mộc mạc, cây ô môi còn sở hữu giá trị dược liệu đáng chú ý trong đời sống. Hầu hết các bộ phận như vỏ, lá và đặc biệt là phần cơm đen ngọt thanh của quả chín đều được ứng dụng làm vị thuốc hỗ trợ điều trị hiệu quả các chứng bệnh về tiêu hóa lẫn xương khớp.
amung