Bỏ qua điều hướng
•

Vì sao tiền gửi ngân hàng nhiều?

Vì sao tiền gửi ngân hàng nhiều?
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn khẳng định người dân vẫn đặt niềm tin vào hệ thống ngân hàng và lựa chọn gửi tiền. Tiền gửi ngân hàng lập kỷ lục, chủ yếu là của người dân Quy định mới về tỷ lệ cho vay trên tiền gửi Lãi suất trái phiếu và tiền gửi hiện ra sao?

Tiền gửi ngắn hạn nhưng quay vòng liên tục

Sáng 31/10, phát biểu làm rõ một số vấn đề đại biểu nêu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết qua thực tiễn điều hành, nguồn vốn tiền gửi tại Việt Nam có những đặc điểm rất riêng. Cụ thể, tiền gửi ngắn hạn chiếm tới 80% tổng tiền gửi. Thông thường, tiền gửi ngắn hạn của cá nhân được coi là nguồn vốn không ổn định.

Trên thực tế, người dân thường xuyên gửi tiền ngắn hạn và quay vòng liên tục, do đó, nguồn vốn này thực chất là mang tính ổn định cao. Mặt khác, việc huy động vốn ngắn hạn giúp các ngân hàng thương mại giảm chi phí huy động, qua đó góp phần giảm lãi suất cho vay.

tp-c_tdoc.jpg
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn. Ảnh: Như Ý.

Lý giải “vì sao tiền gửi ngân hàng nhiều”, ông Ấn khẳng định về cơ bản, người dân vẫn đặt niềm tin vào hệ thống ngân hàng và lựa chọn gửi tiền tại các ngân hàng. Trong thời gian tới, khi thị trường vốn phát triển, trở nên hấp dẫn và an toàn hơn, cơ cấu đầu tư của người dân sẽ có sự cân bằng khác.

Thống đốc Ngân hàng khẳng định, đến thời điểm hiện nay, điều hành chính sách tiền tệ vẫn kiên định theo đuổi các mục tiêu: bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kiểm soát tỷ giá và góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đúng như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, công tác điều hành cần tìm ra điểm cân bằng phù hợp trên cơ sở thực tiễn, thay vì áp dụng một công thức cố định, ông Ấn chia sẻ.

Theo đó, các công cụ chính sách tiền tệ như tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở đang được Ngân hàng Nhà nước vận hành hiệu quả, hỗ trợ các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đang triển khai gói tái cấp vốn phục vụ cho vay nhà ở xã hội.

Kiểm soát tín dụng bất động sản

Đối với lĩnh vực tín dụng, Thống đốc nêu rõ, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện tốt công tác kiểm soát. Thời gian qua, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 12,27%, qua đó góp phần kiểm soát mặt bằng lãi suất.

Lãi suất huy động tăng 1,42%, trong khi lãi suất cho vay chỉ tăng 0,99%. Điều này cho thấy chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay đang có xu hướng thu hẹp.

anh-man-hinh-2026-10-31-luc-111617.png
Tiền gửi ngắn hạn chiếm tới 80% tổng tiền gửi.

Đặc biệt, đối với tín dụng bất động sản, mức tăng trưởng được kiểm soát ở mức 9,84%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế.

Trong tổng dư nợ tín dụng hơn 20,87 triệu tỷ đồng, có tới trên 77% dư nợ được dành cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Riêng đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, dư nợ tín dụng đã đạt hơn 4 triệu tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo ông Phạm Đức Ấn, một trong những vấn đề cần khắc phục là tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai bảng cân đối kế toán, trong đó một bảng được sử dụng để kê khai, nộp thuế và một bảng được sử dụng khi vay vốn ngân hàng.

Theo ông Ấn, khi doanh nghiệp thực hiện minh bạch tài chính, ngân hàng mới có cơ sở để đánh giá chính xác tình hình và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp”, ông nói.

Theo Thống đốc Ngân hàng, hiện nay, 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được các tổ chức tín dụng tiếp cận và cấp tín dụng. Bản thân doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực, đồng thời chứng minh được khả năng trả nợ. Khi doanh nghiệp đáp ứng được những điều kiện này, ngân hàng hoàn toàn có cơ sở để xem xét cho vay, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho hay.

Dù tiền gửi ngắn hạn chiếm tới 80% tổng tiền gửi, dòng vốn này trên thực tế lại mang tính ổn định cao nhờ thói quen quay vòng liên tục của người dân. Tại phiên thảo luận sáng 31/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh hiện tượng tiền gửi lập kỷ lục phản ánh niềm tin vững chắc của xã hội vào hệ thống ngân hàng thương mại. Nguồn vốn dồi dào này đồng thời giúp các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí đầu vào, tạo dư địa duy trì lãi suất cho vay hợp lý nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Chính sách tiền tệ tiếp tục bám sát mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng thông qua các công cụ nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn linh hoạt. Với mức tăng trưởng tín dụng đạt 12,27%, mặt bằng lãi suất huy động tăng 1,42% trong khi lãi suất cho vay chỉ tăng 0,99%, cho thấy biên độ chênh lệch lãi suất đang thu hẹp đáng kể. Ngân hàng Nhà nước cũng đang triển khai gói tái cấp vốn phục vụ nhà ở xã hội nhằm giải quyết bài toán an sinh cấp thiết. Cơ cấu dòng vốn hiện tập trung mạnh mẽ vào khu vực thực chất khi hơn 77% trong tổng số 20,87 triệu tỷ đồng dư nợ được rót vào sản xuất, kinh doanh. Trái lại, tín dụng bất động sản được kiểm soát chặt chẽ ở mức 9,84%, thấp hơn mức tăng chung của toàn hệ thống để hạn chế rủi ro bong bóng tài sản. Đối với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, dư nợ đã vượt 4 triệu tỷ đồng với tỷ lệ tiếp cận tín dụng đạt tới 98%.
amung