Bỏ qua điều hướng
•

Vụ 10.000 tấn thịt heo nhiễm chất cấm: Nhiều hàng rào quản lý vẫn "bó tay"?

Vụ 10.000 tấn thịt heo nhiễm chất cấm: Nhiều hàng rào quản lý vẫn "bó tay"?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Người tiêu dùng không thể tự nhận biết thịt heo chọn mua hằng ngày có an toàn hay không, trong khi người chăn nuôi cũng đang “bất lực” trước vấn nạn chất cấm.

Thịt heo có chất cấm: Không thể nhận biết bằng mắt thường

Ngày 5/10, thông tin Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TPHCM (Phòng Cảnh sát kinh tế) triệt phá đường dây nuôi, vận chuyển và tiêu thụ heo sử dụng chất cấm salbutamol với quy mô đặc biệt lớn khiến nhiều người tiêu dùng hoang mang.

Trả lời câu hỏi liệu người tiêu dùng có thể nhận biết được thịt heo nhiễm chất cấm bằng cảm quan khi đi chợ, ThS Đặng Hoàng Dự - chuyên gia tư vấn quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, cho rằng, hoàn toàn không thể nhận biết thịt heo có sử dụng chất cấm thông qua màu sắc, hình dáng hay những dấu hiệu thông thường.

Đồng quan điểm, ông Lê Văn Quyết - Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, cũng cho rằng, việc xác định một sản phẩm có chất cấm hay không phải dựa trên kết quả xét nghiệm chuyên môn.

“Người tiêu dùng đi chợ thì không thể tự kiểm dịch hay tự lấy mẫu xét nghiệm được. Họ không có cách nào để biết thịt mình mua có chất cấm hay không”, ông nhấn mạnh.

Vụ 10.000 tấn thịt heo nhiễm chất cấm: Nhiều hàng rào quản lý vẫn bó tay? - 1

Số heo nhiễm chất cấm được tiêu hủy theo quy định (Ảnh: Thuận Thiên).

Theo ông Quyết, ngay cả những người trực tiếp làm việc tại trang trại hoặc khâu giết mổ đôi khi cũng khó phát hiện nếu chủ cơ sở cố tình can thiệp vào quy trình chăn nuôi.

Các trang trại có thể xây dựng quy trình, hồ sơ và dữ liệu về việc sử dụng thuốc, chăm sóc vật nuôi. Tuy nhiên, nếu những dữ liệu này bị can thiệp hoặc việc sử dụng chất cấm được thực hiện có chủ ý, việc phát hiện không thể chỉ dựa vào kiểm tra hồ sơ.

Một số bất thường về trọng lượng hoặc tốc độ tăng trưởng của vật nuôi có thể khiến cơ sở giết mổ hoặc cơ quan chức năng nghi ngờ khi kiểm dịch. Tuy nhiên, đây cũng không phải căn cứ để người tiêu dùng có thể sử dụng khi lựa chọn thịt trên thị trường.

Chất cấm tồn tại hơn chục năm, truy xuất nguồn gốc vẫn “mất dấu”

Theo ông Quyết, vấn nạn sử dụng chất cấm để thúc tăng trọng cho heo xảy ra từ hơn chục năm nay. Ngành chức năng cũng nhiều lần truy quét, quyết tâm xử lý nhưng đến nay, tình trạng này vẫn diễn ra.  Nguyên nhân là lợi nhuận đem lại cho các đối tượng này là rất lớn, trong khi mức xử phạt chưa đủ răn đe.

Theo vị này, ngành chăn nuôi những năm qua thực hiện nhiều chương trình liên quan đến kiểm dịch, xây dựng chuỗi thịt heo an toàn như đeo vòng truy xuất nguồn gốc cho heo mà TPHCM khởi xướng từ những năm trước đây.

Thế nhưng đến nay, các chương trình này hầu như đã “bặt vô âm tín”, không mang lại hiệu quả như kỳ vọng.

“Không hiệu quả ở cái chỗ có những cái vòng là “vòng trắng”, chẳng có thông tin gì hết hoặc chỉ có mỗi thông tin con heo này xuất ra từ trại nào, còn quá trình từ con giống đến chăn nuôi, ngày xuất chuồng, ngày đưa vào giết mổ, đã đi qua những trạm trung gian nào… thì không có”, ông Quyết nói.

Vụ 10.000 tấn thịt heo nhiễm chất cấm: Nhiều hàng rào quản lý vẫn bó tay? - 2

Lực lượng chức năng kiểm tra xe tải, phát hiện 80 con heo nhiễm virus dịch tả heo châu Phi (Ảnh: Thuận Thiên).

Thực tế này cũng được bà Phạm Khánh Phong Lan - Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TPHCM, chỉ ra tại tọa đàm “Góp ý sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Chặn thực phẩm bẩn từ gốc” tổ chức hồi cuối tháng 5.

Theo bà Lan, TPHCM từng áp dụng việc đeo vòng truy xuất nguồn gốc cho heo. Tuy nhiên, khi heo được đưa đến chợ đầu mối rồi tiếp tục phân phối về chợ lẻ, thông tin truy xuất có thể bị đứt gãy.

“Chúng ta kiểm soát đến chợ đầu mối và sau đó, các tiểu thương chợ lẻ mang về bán cho người tiêu dùng. Ngay tại khâu chợ lẻ, việc truy xuất mất dấu. Khi sử dụng thịt có xảy ra vấn đề cũng không thể truy xuất được”, bà Lan dẫn chứng.

Còn theo ông Quyết, khi con heo được đưa ra khỏi trang trại, cần có đầy đủ thông tin về nguồn gốc, quá trình chăn nuôi và việc sử dụng thuốc thú y. Truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp người tiêu dùng có thêm thông tin mà còn tạo cơ sở để cơ quan quản lý kiểm tra khi xảy ra sự cố.

Một trong những giải pháp thường được nhắc đến để giải quyết bài toán trên là truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, ông Đặng Hoàng Dự cho rằng, một mã QR Code tự thân không thể bảo đảm sản phẩm là an toàn.

“Làm một mã QR Code thì rất đơn giản, nhưng nếu dữ liệu tích hợp trong mã QR này không có, doanh nghiệp không thực hiện ghi chép hồ sơ, không tuân thủ quy định về nhật ký sản xuất… thì QR Code cũng không giải quyết được nhu cầu về nguồn cung thực phẩm sạch của người dân hiện nay”, ông Dự nhấn mạnh.

Từng trực tiếp tham gia đánh giá một số chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn của TPHCM, ông Dự cho rằng, với một số sản phẩm như trứng, thịt gà, thịt heo… quy trình đánh giá về nguyên tắc được xây dựng khá chặt chẽ.

Tuy nhiên, điểm quan trọng là việc giám sát sau khi cơ sở đã được chứng nhận. Nếu chỉ cấp chứng nhận, dán nhãn hoặc gắn mã truy xuất nhưng thiếu kiểm tra thường xuyên, hệ thống có nguy cơ bị lợi dụng.

Vì vậy, theo ông Dự, kiểm soát chất cấm không thể chỉ dựa vào hồ sơ, giấy chứng nhận hay cam kết của cơ sở sản xuất như hiện nay mà cần kết hợp giữa quản lý hồ sơ, truy xuất dữ liệu, thanh tra và lấy mẫu xét nghiệm định kỳ.

Ngoài ra, để kiểm soát chất cấm, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên người chăn nuôi. Cơ quan quản lý, đơn vị giám sát và các chủ thể khác trong chuỗi cũng phải chịu trách nhiệm tương ứng.

Từ thực tế này, ông Dự cho rằng, các quy định về an toàn thực phẩm cần chuyển mạnh sang kiểm soát theo chuỗi thay vì chỉ kiểm tra từng khâu riêng lẻ.

Cùng với đó, cần siết quản lý từ trang trại đến bàn ăn; bắt buộc truy xuất nguồn gốc điện tử đối với thịt và sản phẩm động vật, từng bước xóa bỏ các cơ sở giết mổ không đạt chuẩn, đồng thời tăng phân cấp, quy rõ trách nhiệm của địa phương và nâng mức xử phạt để tăng tính răn đe.

Salbutamol vốn là hoạt chất được sử dụng trong y tế để điều trị bệnh hen suyễn và các bệnh lý đường hô hấp. Đây là chất đã bị cấm sử dụng trong chăn nuôi theo quyết định của Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, trong chăn nuôi, hoạt chất này bị một số đối tượng lợi dụng làm chất tạo nạc nhằm tăng tỷ lệ thịt nạc, giảm mỡ, giúp vật nuôi có ngoại hình đẹp hơn và bán được giá cao.

Các xét nghiệm lâm sàng đã chứng minh tác hại nghiêm trọng đối với người tiêu dùng thực phẩm tồn dư Salbutamol. Trường hợp ngộ độc nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Vụ Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TPHCM triệt phá đường dây nuôi, vận chuyển và tiêu thụ heo chứa salbutamol với quy mô lớn đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về an toàn thực phẩm. Chuyên gia tư vấn Đặng Hoàng Dự và ông Lê Văn Quyết, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, đều khẳng định người tiêu dùng hoàn toàn không thể nhận biết chất cấm bằng mắt thường. Việc phát hiện chỉ có thể trông cậy vào kết quả xét nghiệm chuyên môn, điều bất khả thi đối với người đi chợ truyền thống. Ngay tại các mắt xích trang trại và khâu giết mổ, nguy cơ thẩm thấu chất kích thích tăng trọng vẫn rất khó ngăn chặn nếu chủ cơ sở cố tình gian lận nhật ký chăn nuôi. Dù vật nuôi có dấu hiệu bất thường về tốc độ tăng trưởng, các hàng rào kiểm dịch giấy tờ thông thường vẫn dễ dàng bị vô hiệu hóa. Sự phối hợp lỏng lẻo tại khâu thẩm định ban đầu đã đẩy toàn bộ rủi ro về phía người sử dụng cuối cùng. Thực tế cho thấy vấn nạn salbutamol đã kéo dài hơn một thập kỷ bởi siêu lợi nhuận vượt xa mức độ răn đe của các chế tài xử phạt hiện hành. Các dự án xây dựng chuỗi an toàn như đeo vòng truy xuất nguồn gốc do TPHCM triển khai hầu như không phát huy tác dụng do xuất hiện tình trạng vòng trắng thiếu dữ liệu lịch trình. Lỗ hổng quản lý chuỗi cung ứng chưa được vá kín đồng nghĩa các đợt kiểm tra vẫn chỉ giải quyết phần ngọn của vấn đề.
amung