Bỏ qua điều hướng

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Trong cái nóng hầm hập, khói bụi và những lớp than đen bám kín mặt mày, những người thợ ở lò than vẫn lặng lẽ làm việc.

Từ sáng sớm, xóm lò than ở phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ, với hơn 380 lò đã rộn tiếng. Tiếng cưa củi vang lên từng hồi. Xe chở nguyên liệu nối nhau ra vào. Giữa những mái lò phủ một màu đen bóng, người làm nghề gọi nhau í ới. Khói len qua những hàng cây, quyện với mùi củi đước cháy, tạo thành thứ hương đặc trưng mà những người ở đây đã quá quen thuộc.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 1.

Khuôn mặt lấm lem vì than nhưng người lao động ở những lò than luôn tự hào bởi đó là cuộc mưu sinh chân chính

ẢNH: DUY TÂN

Những khuôn mặt lấm lem ở xóm lò than

Làng nghề hầm than này đã tồn tại hơn nửa thế kỷ. Từ một vài hộ làm thử, nghề dần lan rộng, những mái lò nối tiếp nhau mọc lên. Có thời điểm, nơi đây có hàng trăm lò than, tạo việc làm cho nhiều lao động nông thôn. Người ít đất sản xuất có thể tìm việc ở các lò than như cưa củi, chất lò, chụm lửa, ra than, phân loại, đóng bao rồi vận chuyển. Một lò than có thể giải quyết việc làm cho khoảng 10 - 15 lao động địa phương, trong đó phụ nữ chiếm phần không nhỏ.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 2.

Củi đước mua từ tỉnh Cà Mau về rồi tập kết ở xóm lò than ở phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ

ẢNH: DUY TÂN

Công việc thường bắt đầu từ lúc ra lò, phân loại, đóng bao cho đến vận chuyển than. Mỗi lần cửa lò được mở, hơi nóng lập tức phả ra bỏng rát. Những mẻ than vừa ra lò còn âm ấm. Bụi than theo gió bám vào tóc, quần áo, tay chân rồi phủ kín khuôn mặt người thợ.Chỉ sau một lúc làm việc, khuôn mặt ai nấy trở nên đen nhẻm.

Bà Nguyễn Hà (50 tuổi, ở phường Đại Thành) cho biết, công đoạn cực nhất là lúc ra than, bởi vừa nóng vừa nhiều bụi. Có ngày làm từ sáng đến chiều, mặt mày đen hết, nhưng bà vẫn gắn bó với công việc vì gần nhà, có thu nhập đều và có thể lo cho gia đình.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 3.

Người thợ vận chuyển củi đước vào lò hầm than

ẢNH: DUY TÂN

Cùng cảnh ngộ, bà Trần Thị Hai (45 tuổi, ở phường Đại Thành) cũng đã quen với những ngày làm việc giữa khói bụi và sức nóng. Trời càng nóng, công việc càng vất vả, nhưng nghỉ làm thì đồng nghĩa không có thu nhập. "Làm riết thành quen, ngày nào không ra lò lại thấy thiếu thiếu. Nhóm chúng tôi có khoảng 50 người, làm hết lò này tới lò khác không hết việc", bà Hai nói.

Một ngày làm việc có thể mang về khoảng 300.000 - 400.000 đồng, tùy công việc và thời gian lao động. Với những người ít đất sản xuất, đây là khoản thu nhập không nhỏ để trang trải cuộc sống.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 4.

Những khúc củi đước được cắt thành từng đoạn, đưa vào lò hầm

ẢNH: DUY TÂN

Mất gần một tháng giữ lửa cho một mẻ than

Nhìn những bao than xếp ngay ngắn, ít ai hình dung phía sau đó là một quy trình kéo dài hàng chục ngày, đòi hỏi kinh nghiệm và sự kiên nhẫn của người làm nghề.

Nguyên liệu trước tiên là củi. Trước đây, người dân tận dụng nhiều loại cây có sẵn trong vườn như nhãn, bạch đàn... Dần dần, nguồn nguyên liệu khan hiếm, người làm than phải tìm mua củi đước từ miệt Cà Mau rồi vận chuyển về. Những khúc củi được cắt thành đoạn dài khoảng nửa mét, lột sạch vỏ để dễ hấp thụ nhiệt. Sau đó, người thợ xếp củi vào lò theo từng lớp, từng nấc, bảo đảm kín và đúng quy cách.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 5.

Củi được xếp thành từng lớp bên trong lò, đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm để bảo đảm than chín đều

ẢNH: DUY TÂN

Lò hầm than có hình bầu tròn như một chiếc bánh bao khổng lồ. Chỗ rộng nhất có đường kính khoảng 7,5 - 8 m, cao chừng 3,5 m. Lò được xây bằng gạch, kết dính bằng bùn non trộn cát thay vì xi măng hay sắt thép. Tưởng đơn giản, nhưng xây lò lại là công việc đòi hỏi kinh nghiệm. Chỉ cần lò bị nứt hoặc kết cấu không đạt, lửa có thể bén vào củi, khiến cả mẻ cháy thành tro. Một lò than thường có 4 ống khói.

Khi củi đã chất đầy, cửa lò được bịt kín, chỉ chừa cửa đốt thì công việc "giữ lửa" của người thợ bắt đầu. Lửa duy trì liên tục trong khoảng 15 - 20 ngày. Trong khoảng thời gian ấy, người thợ không chỉ châm lửa mà còn phải quan sát từng dấu hiệu nhỏ để điều chỉnh nhiệt độ.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 6.

Phụ nữ chiếm một phần không nhỏ trong lực lượng lao động tại các lò than

ẢNH: DUY TÂN

Ông Bùi Văn Chí, người có khoảng 25 năm gắn bó với nghề, hiện có 8 lò hầm than. Theo ông, muốn có một mẻ than đạt chất lượng, người thợ phải biết nhìn lửa, nghe tiếng lò và quan sát khói để điều chỉnh nhiệt độ phù hợp. Với người có kinh nghiệm, một mẻ than gần chín có thể được nhận biết bằng những dấu hiệu rất riêng. Họ quan sát màu khói, mùi khói và cả lớp "meo" màu trắng xuất hiện ở các ống khói.

Khi khói lên thành sợi, gần như không còn màu và có mùi thơm đặc trưng, người thợ biết thời điểm "bế" lò đã đến. Cửa lò và 4 ống khói được bít lại bằng gạch, bùn non pha cát. Sau đó, lò tiếp tục nằm im khoảng 7 - 14 ngày để nguội hẳn. Chỉ khi nhiệt độ trong lò giảm xuống, người thợ mới có thể mở cửa, chui vào lấy than ra. Đây cũng là công đoạn mà nhiều người trong nghề ngán nhất.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 7.

Trong lò hầm than, bụi đóng thành từng lớp dày đặc, đen kịt

ẢNH: DUY TÂN

Chui vào lòng lò than

Bên trong vòm lò kín, nóng và ngột ngạt. Bụi than bay mịt mù. Người không quen rất dễ ho sặc sụa, khó thở. Nhưng với những người đã gắn bó hàng chục năm, công việc ấy dần trở thành một phần của cuộc sống.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 8.

Lò hầm than có hình bầu tròn, được xây bằng gạch và kết dính bằng bùn non trộn cát

ẢNH: DUY TÂN

Người thợ bước vào lòng lò, lấy từng mảng than, đưa ra ngoài. Mỗi lần bước ra, khuôn mặt, tóc tai và quần áo lại phủ thêm một lớp bụi đen. Có người dùng tay quệt mồ hôi trên trán, lập tức để lại một vệt đen dài trên mặt. "Ngán" nhất là chui vào lò lấy than, nhưng đó cũng là công việc không thể thiếu để hoàn tất một mẻ than.

Ít ai nghĩ vùng đất này từng chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa. Khi một vài hộ bắt đầu làm than, những gia đình khác thấy nghề có thể tạo thu nhập nên làm theo. Nhà có đất thì dựng lò; người không có ruộng vườn thì đi làm thuê cho các chủ lò. Nhà này làm rồi đến nhà khác. Những mái lò xuất hiện ngày càng nhiều, dần hình thành cả một xóm nghề.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 9.

Sức nóng khiến không khí trong lò rất ngột ngạt

ẢNH: DUY TÂN

Có gia đình từ một lò phát triển lên 5 - 9 miệng lò. Nghề than không chỉ đem lại thu nhập cho chủ lò mà còn tạo công việc thường xuyên cho nhiều lao động địa phương. Ông Phạm Văn Việt (60 tuổi, ở phường Đại Thanh) là một trong những lao động thường xuyên làm việc tại các lò than. Ông không sở hữu lò nhưng có thể đi qua nhiều lò để làm các công đoạn khác nhau. Công việc đều đặn giúp ông có thu nhập khoảng 9 - 10 triệu đồng/tháng.

Ở xóm lò than, người lao động cùng làm, cùng ăn và chia sẻ chuyện gia đình, mùa vụ. Có người theo nghề từ khi còn trẻ, lập gia đình rồi tiếp tục bám lò. Con cái lớn lên cũng biết nghề của cha mẹ. Với họ, màu đen của than không đơn thuần là dấu vết của nhọc nhằn. Đó còn là ký ức về những năm tháng mưu sinh. Nhiều gia đình nhờ nghề than mà có điều kiện nuôi con ăn học, xây dựng nhà cửa, cải thiện cuộc sống.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 10.

Than vừa ra lò còn âm ấm, bụi than bám đầy tay chân, quần áo người lao động

ẢNH: DUY TÂN

Giữ nghề giữa những đổi thay

Nghề hầm than tồn tại qua nhiều thế hệ nhưng cũng đang đứng trước không ít thách thức. Nguồn củi đước ngày càng khó mua. Giá nguyên liệu tăng trong khi yêu cầu về môi trường ngày càng cao.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 11.

Than được chất lên xe đẩy ra ngoài, cho vào từng bịch để tiêu thụ

ẢNH: DUY TÂN

Trước đây, ngành chức năng và các nhà khoa học từng xuống địa phương vận động người dân cải tiến công nghệ để giảm khói, bụi than. Tuy nhiên, thay đổi phương thức hầm không phải chuyện dễ dàng. Một số phương án thử nghiệm khiến than chín không đều, chất lượng không đạt yêu cầu. Người dân sau đó phải quay lại phương pháp truyền thống.

Đó là bài toán không dễ đối với làng nghề: làm sao vừa duy trì sinh kế của người dân, vừa đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về môi trường. Bởi phía sau một lò than không chỉ có những bao than thành phẩm. Đó còn là nguồn thu của chủ lò, tiền công của người lao động và cuộc sống của nhiều gia đình nông thôn.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 12.

Bên trong lò than tối đen, không khí ngột ngạt

ẢNH: DUY TÂN

Sản phẩm than từ làng nghề được tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành phía nam và TP.HCM, đồng thời có sản phẩm phục vụ thị trường xuất khẩu. Nếu trước đây thương lái chủ yếu vận chuyển bằng đường sông thì nay đường bộ thuận lợi hơn, xe tải lớn có thể vào tận lò lấy hàng. Một số chủ lò còn đầu tư đường giao thông để xe tải, thậm chí xe container, ra vào khu vực sản xuất. Điều đó cho thấy làng nghề vẫn có đầu ra và vẫn giữ một vị trí nhất định trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ.

Nghề của người "đen mặt, sáng lòng"

Chiều xuống, những lò than vẫn âm ỉ đỏ lửa. Những người phụ nữ lại lúi húi bên những mẻ than vừa ra lò. Bàn tay lấm lem, mái tóc ám khói, khuôn mặt đen nhẻm sau một ngày làm việc. Có người đưa tay quệt mồ hôi, để lại một vệt than trên má rồi cười. Những khuôn mặt ấy có thể khiến người ngoài nghề ái ngại. Nhưng với họ, đó là một phần của cuộc sống.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 13.

Mỗi lao động có thể kiếm được từ 300.000 - 400.000 đồng/ngày

ẢNH: DUY TÂN

Nói như những người làm nghề ở đây, đã trót theo "nghề đen mặt, sáng lòng" thì chấp nhận. Họ hiểu công việc nặng nhọc, nóng bức và ảnh hưởng đến sức khỏe. Nhưng trong điều kiện của mình, đây vẫn là một nghề tạo ra thu nhập ngay tại quê nhà. "Đen mặt" vì than, nhưng họ "sáng mặt" vì niềm tự hào phía sau lớp bụi đen ấy là những đồng tiền kiếm được từ sức lao động chân chính của chính mình.

Xóm lò than hơn 50 năm ở miền Tây: Vui, buồn người thợ 'đen mặt, sáng lòng'- Ảnh 14.

Than sau khi hầm xong được chất cao để vận chuyển

ẢNH: DUY TÂN

Ở xóm lò than, người dân không mong nghề tồn tại bằng mọi giá. Điều họ mong là có thể tiếp tục làm nghề theo một cách phù hợp hơn với những yêu cầu mới, để sinh kế được duy trì mà môi trường cũng được bảo vệ. 

Và khi chiều dần buông, những mái lò vẫn tiếp tục âm ỉ giữ lửa. Ngọn lửa ấy không chỉ giữ một mẻ than, nó còn giữ một nghề, một kế sinh nhai đã đi qua nhiều thế hệ ở vùng đất này.

Tồn tại hơn nửa thế kỷ tại phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ, làng hầm than đước truyền thống với quy mô hơn 380 lò hiện vẫn duy trì nhịp sống lao động hối hả từ sớm mai. Nơi đây tạo sinh kế ổn định cho hàng trăm lao động địa phương ít đất sản xuất, trong đó phụ nữ chiếm tỷ lệ đáng kể. Với mức thu nhập trung bình từ 300.000 đến 400.000 đồng mỗi ngày, công việc này trở thành nguồn sống quan trọng giúp nhiều gia đình trang trải chi phí sinh hoạt. Để hoàn thành một mẻ than chất lượng, người thợ phải thực hiện quy trình kỹ lưỡng kéo dài gần một tháng. Nguyên liệu củi đước hiện nay được vận chuyển chủ yếu từ tỉnh Cà Mau về tập kết, sau đó cắt thành từng đoạn dài khoảng nửa mét và lột sạch vỏ nhằm tối ưu khả năng hấp thụ nhiệt. Công đoạn xếp củi vào lò đòi hỏi kỹ thuật cao, phải sắp đặt theo từng nấc nghiêm ngặt để bảo đảm độ kín trước khi đốt lửa. Môi trường làm việc tại các lò than vô cùng khắc nghiệt khi người lao động thường xuyên đối mặt với khói bụi độc hại cùng hơi nóng phả ra từ cửa lò mới mở. Những người thợ như bà Nguyễn Hà 50 tuổi hay bà Trần Thị Hai 45 tuổi dù đối diện với công việc vất vả cực nhọc nhưng vẫn gắn bó bền bỉ theo nhóm khoảng 50 người làm việc liên tục. Dù khuôn mặt luôn phủ kín lớp bụi than đen nhẻm, sự kiên trì của họ vẫn khẳng định giá trị mưu sinh chân chính và bền bỉ của làng nghề truyền thống miền Tây.