Thông tin tại tọa đàm “Làm sạch mã số thuế: Làm sao để doanh nghiệp đóng cửa thuận lợi?” do báo Dân trí tổ chức ngày 9/10, ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng Ban Nghiệp vụ Thuế (Cục Thuế), cho biết chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” do ngành thuế triển khai từ ngày 8/5, đến ngày 30/9 đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho gần 125.000 doanh nghiệp, chi nhánh và tổ chức, tăng khoảng 30% so với cuối năm 2025. Trong đó, nhiều hồ sơ tồn từ năm 2025 trở về trước được tập trung xử lý trong Chiến dịch.
Đồng thời, cơ quan thuế đã xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế cho hơn 52.000 trường hợp để tiếp tục thực hiện thủ tục như nghĩa vụ bảo hiểm xã hội với người lao động, nghĩa vụ với các chủ nợ và sau đó sẽ hoàn tất thủ tục giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Một kết quả đáng lưu tâm là hơn 4.000 doanh nghiệp, tổ chức đã được khôi phục mã số thuế để tiếp tục hoạt động, khôi phục hoạt động kinh doanh, gia nhập lại thị trường.
Quang cảnh tọa đàm của báo Dân trí (Ảnh: Hải Long).
Làm sạch mã số thuế không làm phát sinh nghĩa vụ mới
Ông Nguyễn Đức Huy khẳng định Chiến dịch không làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý mới. “Khi giải quyết, chúng tôi tách bạch ra thành 4 nghĩa vụ phải thực hiện”, ông thông tin tại tọa đàm.
Thứ nhất là các khoản đang nợ ngân sách Nhà nước, tức nợ thuế, đã quá thời hạn và đến kỳ phải nộp. Khoản nợ này có thể tích tụ trong nhiều năm. Thứ hai là tiền chậm nộp đối với các khoản nợ thuộc diện phải tính tiền chậm nộp. Theo chính sách hiện hành, mức tiền chậm nộp là 0,03%/ngày. Thứ ba là các nghĩa vụ liên quan đến hồ sơ khai thuế, hóa đơn, bao gồm hóa đơn mua của cơ quan thuế, hóa đơn tự in và sau này là hóa đơn điện tử. Thứ tư là nghĩa vụ xử phạt đối với các hành vi vi phạm, nếu có, được xác định theo đúng thời kỳ và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
Theo ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng Ban Nghiệp vụ Thuế (Cục Thuế), chiến dịch “Làm sạch mã số thuế” được triển khai với 2 mục tiêu song song, gồm làm sạch dữ liệu mã số thuế và tháo gỡ các điểm nghẽn trong hoạt động kinh doanh.
Trong đó, “tháo gỡ điểm nghẽn” là một trong những mục tiêu quan trọng của chiến dịch. Trước khi triển khai, ngành thuế đã xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn chi tiết, công khai trên các hệ thống truyền thông để doanh nghiệp có thể nắm được các bước cần thực hiện, từ chuẩn bị dữ liệu đến khôi phục hoạt động kinh doanh.
Đáng chú ý, theo ông Huy, trong quá trình triển khai các quy định của Luật Quản lý thuế mới, ngành thuế đã đề xuất, báo cáo Chính phủ một số nội dung nhằm giảm thủ tục cho doanh nghiệp.
Một trong những hướng tháo gỡ là cơ quan thuế chỉ thực hiện kiểm tra, quyết toán đối với những doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, chẳng hạn có dấu hiệu mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc gian lận thuế.
“Đối với những trường hợp doanh nghiệp được thành lập nhưng không có hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc chỉ có hoạt động ở quy mô nhỏ, pháp luật quản lý thuế đã cho phép không cần thực hiện kiểm tra thuế. Cơ quan thuế và người nộp thuế sẽ phối hợp rà soát hồ sơ để thực hiện các thủ tục chấm dứt nhanh hơn”, ông Huy nói.
Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng Ban Nghiệp vụ Thuế (Ảnh: Hải Long).
Bên cạnh đó, ngành Thuế đang phối hợp với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06, Bộ Công an) để rà soát, chuẩn hóa dữ liệu của chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, cơ quan thuế sẽ chủ động liên hệ, mời chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật đến làm việc để được hướng dẫn xử lý. Theo ông Huy, ngành thuế đã bố trí các tổ công chức trực 7 ngày trong tuần và công khai đường dây nóng để tiếp nhận, giải đáp vướng mắc.
Quá trình xử lý cũng có sự phối hợp giữa cơ quan thuế với cơ quan hải quan, cơ quan đăng ký kinh doanh và chính quyền địa phương nhằm rà soát đầy đủ các nghĩa vụ liên quan của doanh nghiệp. “Quan điểm chung của chúng tôi là xử lý kịp thời và không để phát sinh thêm các khoản chi phí”, ông Huy nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Ban Nghiệp vụ Thuế, trong quá trình triển khai chiến dịch, cơ quan thuế đã ghi nhận nhiều vướng mắc thực tế của doanh nghiệp. Những nội dung thuộc thẩm quyền được ngành thuế xử lý, tháo gỡ ngay.
Chẳng hạn, với trường hợp doanh nghiệp không còn chữ ký số, thậm chí không còn con dấu, cơ quan thuế đã chỉ đạo các đơn vị tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện hồ sơ bằng bản giấy thay vì bắt buộc nộp tờ khai điện tử. Đối với các vướng mắc liên quan đến xử phạt, lệ phí môn bài và những khoản chi phí phát sinh khác, ngành Thuế đã tổng hợp để báo cáo Bộ Tài chính và cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tháo gỡ.
Cục Thuế nói về khoản chi phí khiến doanh nghiệp ngại chấm dứt mã số thuế
Ông Huy cho biết một trong những rào cản khiến người nộp thuế chưa mặn mà với việc hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế là chi phí xử lý các nghĩa vụ tồn đọng, trong một số trường hợp có thể lên tới vài chục triệu đồng, thậm chí hàng trăm triệu đồng. “Chúng tôi nắm được những nội dung đó để tháo gỡ vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp”, ông Huy nói.
Đại diện Cục Thuế chia sẻ tại tọa đàm ngày 10/10 (Ảnh: Hải Long).
Liên quan đến những thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội về quá trình làm sạch mã số thuế, ông Nguyễn Đức Huy cho biết quan điểm của ngành thuế là cầu thị, lắng nghe và kịp thời chấn chỉnh.
Theo ông Huy, ngành thuế có các bộ phận theo dõi phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và cơ quan báo chí trong quá trình triển khai chiến dịch. Những phản ánh, dù tích cực hay chưa tích cực, đều được tiếp nhận để cơ quan quản lý rà soát, xử lý.
“Chúng tôi luôn lắng nghe và chấn chỉnh kịp thời những trường hợp còn để xảy ra vấn đề không tốt, làm ảnh hưởng đến chủ trương của Đảng và Nhà nước”, ông Huy nói.
Thời gian tới, ngành thuế sẽ tăng cường công khai từng bước, từng quy trình xử lý, đồng thời phân loại cụ thể từng trường hợp để doanh nghiệp có thể đối chiếu với tình trạng của mình và biết rõ cần thực hiện những bước nào, mức xử phạt ra sao, trách nhiệm thuộc về ai và công chức thuế cần thực hiện những công việc gì.
Bên cạnh việc công khai thông tin, ông Huy cho biết ngành thuế sẽ tăng cường giám sát kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ của công chức thuế, với mục tiêu lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.