Bỏ qua điều hướng
•

9X dựng thương hiệu nông sản trên cao nguyên đá

9X dựng thương hiệu nông sản trên cao nguyên đá
Nguồn ảnh: VnExpress

Một chuyến xe chở hàng trăm kg rau từ Đồng Văn, Tuyên Quang, xuống miền xuôi từng khiến Lưu Thị Hòa, cô gái dân tộc Cờ Lao, day dứt.

Khi đến nơi, phần lớn rau bị dập, hỏng do vận chuyển trong điều kiện nóng bức. Công sức của người trồng rau trên cao nguyên đá gần như mất trắng, còn người kết nối tiêu thụ phải tìm cách xử lý số hàng không thể bán.

Với Hòa, đó là bài học về việc đưa nông sản quê hương ra thị trường. Sản phẩm có hương vị riêng nhưng vẫn khó đến tay người mua nếu thiếu cách bảo quản, đóng gói và tổ chức tiêu thụ phù hợp. Và suốt cả chục năm qua, cô đau đáu đi tìm lời giải cho bài toán tiêu thụ nông sản vùng cao với giá phù hợp nhất.

Sinh năm 1992, người dân tộc Cờ Lao ở Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, Hòa từng học ngành Quốc tế học tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tốt nghiệp, cô làm marketing tại một tập đoàn công nghệ rồi chuyển sang một doanh nghiệp cung ứng. Ngoài giờ làm, Hòa còn bán hàng trực tuyến, thử sức với công việc người mẫu và dẫn chương trình.

Năm 2017, khi tham gia kết nối tiêu thụ nông sản địa phương, Hòa đưa sản phẩm đến gặp các đơn vị có khả năng hỗ trợ. Tuy nhiên, cơ hội hợp tác không thành do hàng hóa còn đơn sơ, thiếu bao bì, nhãn mác và hồ sơ cần thiết. Cô nhận ra muốn đưa nông sản vùng cao đi xa, người sản xuất phải thay đổi cách làm, từ tổ chức vùng nguyên liệu đến kiểm soát chất lượng và xây dựng thương hiệu.

Hòa quyết định rời Hà Nội, mang theo khoảng 300 triệu đồng tích lũy để thành lập Hợp tác xã Nông lâm nghiệp và dịch vụ thương mại tổng hợp Po Mỷ. Ban đầu, hợp tác xã (HTX) có bảy thành viên, tập trung vào rau và thịt lợn gác bếp. Nhưng rau tươi dễ hư hỏng khi vận chuyển đường dài, còn thịt lợn gác bếp gặp khó về bảo quản và quy trình chế biến. Có những mẻ hàng phải bỏ đi, vốn liếng của HTX vơi dần.

Chị Lưu Thị Hoà. Ảnh: Gia Chính

Chị Lưu Thị Hòa. Ảnh: Gia Chính

Sau những lần thất bại, Hòa chuyển hướng sang các sản vật có lợi thế riêng của Đồng Văn, trong đó có lê và mật ong hoa bạc hà. Đây cũng là sản phẩm gắn với ký ức thời thơ ấu của cô. Mỗi dịp hè, Hòa từng theo gia đình thu hoạch lê rồi mang bán để phụ giúp việc học hành. Nhà chỉ có vài trăm gốc lê, nhưng những mùa quả ấy giúp cô hiểu giá trị sản vật quê hương và nỗi vất vả của người trồng.

Kinh nghiệm marketing ở Hà Nội trở thành lợi thế khi Hòa cải thiện bao bì, tự làm nội dung quảng bá và phát triển kênh bán hàng trực tuyến. Khoảng 90% khách hàng mua lẻ của HTX đến từ các kênh này. Mật ong bạc hà, lê Đồng Văn cùng một số nông sản địa phương được giới thiệu đến người tiêu dùng miền xuôi thông qua đơn hàng trực tiếp, cửa hàng thực phẩm sạch và kênh quà tặng. Sản phẩm mật ong của HTX được công nhận OCOP 3 sao.

Tuy nhiên, bán được hàng mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Để duy trì nguồn cung, HTX phải vận động người dân cùng sản xuất theo yêu cầu chung. Với những hộ dân quen làm theo kinh nghiệm, việc thay đổi quy trình không dễ. Hòa bắt đầu từ những diện tích nhỏ, giải thích cách làm và lợi ích của liên kết. Khi thấy sản phẩm có đầu ra, người dân mới dần tin tưởng.

Nguồn vốn cũng là trở ngại lớn. Sau khi sử dụng khoản tích lũy ban đầu, Hòa tìm kiếm các nguồn hỗ trợ để duy trì hoạt động. HTX từng được Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã cho vay 270 triệu đồng với lãi suất ưu đãi trong ba năm. Khoản vay giúp cô xoay xở nhưng chưa thể giải quyết hết khó khăn của mô hình nông nghiệp quy mô nhỏ, vùng nguyên liệu phân tán và thị trường nhiều biến động.

Đại dịch Covid-19 khiến các cửa hàng, đối tác của HTX bị ảnh hưởng, đầu ra hàng hóa thu hẹp. Hòa chuyển sang bán hàng trực tuyến, livestream và tìm kiếm khách hàng mới. Đến năm 2023, trước những trở ngại về vốn, thị trường và tổ chức sản xuất, cô từng nghĩ đến chuyện dừng lại.

"Có rất nhiều lần tôi nghĩ thôi bỏ đi, không làm nữa, bởi làm nông nghiệp vất vả quá, thu nhập cũng không được nhiều", Hòa nói.

Sản phẩm mật ong của HTX Po Mỷ. Ảnh: NVCC

Sản phẩm mật ong của HTX Po Mỷ. Ảnh: NVCC

Phía sau mỗi chai mật ong hay thùng lê là nhiều công đoạn, từ tổ chức vùng nguyên liệu, thu hoạch, sơ chế đến đóng gói và vận chuyển. Chỉ một khâu không bảo đảm cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và uy tín của HTX.

Điều khiến Hòa tiếp tục là trách nhiệm với những người đã tin tưởng, đồng hành cùng mình. Khi đã vận động bà con tham gia, cô không muốn nỗ lực của họ dừng lại chỉ vì HTX gặp khó khăn. Gia đình và những người xung quanh cũng là điểm tựa để cô đi tiếp.

Gần chín năm sau khi thành lập, Po Mỷ vẫn là HTX quy mô nhỏ. Hòa cho rằng không thể vì muốn phát triển nhanh mà đánh đổi chất lượng, nhất là khi nguyên liệu nằm rải rác ở nhiều hộ, điều kiện canh tác và thu hoạch không đồng nhất.

HTX đang hướng tới quản lý chặt chẽ hơn, từ xác định người sản xuất, thời điểm thu hoạch đến từng lô hàng. Với mật ong, việc truy xuất nguồn gốc được tính đến cả vị trí đặt đàn ong. Hòa muốn phối hợp với chính quyền địa phương để hỗ trợ kiểm soát chất lượng, thống nhất quy trình và phân định trách nhiệm giữa các hộ liên kết.

Trước đây, HTX từng áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAP và HACCP nhưng hiện không duy trì do chi phí lớn trong điều kiện vùng nguyên liệu phân tán. Thay vào đó, đơn vị thực hiện kiểm nghiệm sản phẩm định kỳ và tự công bố chất lượng theo quy định. Với Hòa, niềm tin của khách hàng phải bắt đầu từ chất lượng có thể kiểm chứng.

Sản phẩm lê của HTX Po Mỷ. Ảnh: NVCC

Sản phẩm lê của HTX Po Mỷ. Ảnh: NVCC

HTX hiện liên kết với hơn 30 hộ dân, phần lớn là đồng bào dân tộc Mông. Ngoài mật ong hoa bạc hà và lê Đồng Văn, đơn vị còn kinh doanh một số nông sản địa phương như sâm khoai và rau xanh. Hòa chưa có dữ liệu đầy đủ để xác định mức tăng thu nhập của các hộ sau liên kết. Mục tiêu trước mắt là tạo đầu ra ổn định hơn, giúp người dân có thêm lựa chọn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán sản phẩm thô tại địa phương.

Người lao động của HTX đều là người dân tộc thiểu số, cơ hội tiếp cận kỹ năng mới còn hạn chế. Hòa vừa tổ chức công việc, vừa hướng dẫn cách sơ chế, đóng gói và sử dụng điện thoại để trao đổi thông tin sản phẩm. Những gì học hỏi được trong các chuyến đi, cô lại truyền đạt cho mọi người.

Những năm tới, Hòa dự định phát triển các sản phẩm chế biến từ lê như mứt, kẹo và nước cốt nhằm kéo dài thời gian bảo quản, giảm phụ thuộc vào mùa thu hoạch. HTX cũng muốn kết nối với hoạt động du lịch trên cao nguyên đá để đưa sản vật địa phương đến với du khách. Tuy nhiên, kế hoạch này cần thêm vốn, năng lực chế biến và sự hỗ trợ phát triển thị trường.

Năm 2026, Hòa được ghi nhận với danh hiệu "Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới", sau gần một thập kỷ khởi nghiệp ở quê nhà. "Tôi chỉ mong các bạn mạnh dạn làm, đi sai đến đâu thì sửa đến đó. Cứ đi thì sẽ đến, chứ không làm gì cả thì sẽ chẳng có gì", cô gái sinh năm 1992 chia sẻ.

Gia Chính

Thất bại từ chuyến xe chở rau dập nát về miền xuôi cùng lần đàm phán bất thành năm 2017 do thiếu nhãn mác, bao bì đã định hình bước ngoặt khởi nghiệp của Lưu Thị Hòa. Nhận thấy nông sản vùng cao không thể đứng vững trên thị trường nếu chỉ dựa vào sự mộc mạc, cô gái sinh năm 1992 quyết định rời Hà Nội với 300 triệu đồng tích lũy để thành lập Hợp tác xã Po Mỷ. Sau giai đoạn đầu hao hụt vốn vì rau tươi và thịt lợn gác bếp khó bảo quản, đơn vị nhanh chóng chuyển trục chiến lược sang các sản vật bản địa đặc thù gồm lê và mật ong hoa bạc hà. Tận dụng chuyên môn truyền thông trước đây, nhà sáng lập tập trung chuẩn hóa quy chuẩn đóng gói, hồ sơ pháp lý và đẩy mạnh kênh thương mại điện tử, nơi mang lại tới 90% lượng khách lẻ hiện nay. Thành công đưa mật ong Po Mỷ đạt chuẩn OCOP 3 sao và tiếp cận hệ thống phân phối miền xuôi đã mở đường cho mô hình liên kết sản xuất bền vững với nông dân địa phương. Thông qua việc tổ chức lại vùng nguyên liệu từng bước nhỏ để thuyết phục đồng bào thay đổi tập quán canh tác truyền thống, bài toán giá trị gia tăng của nông sản vùng cao đã tìm được lời giải thực tế.
amung