Bỏ qua điều hướng
•

Bác sĩ giải đáp: Vỏ, lá chuối có tác dụng chữa bệnh gì?

Bác sĩ giải đáp: Vỏ, lá chuối có tác dụng chữa bệnh gì?
Nguồn ảnh: VTC News

Chuối xanh, vỏ và lá chuối được dân gian dùng chữa nhiều bệnh, song bác sĩ Huỳnh Tấn Vũ cảnh báo không nên tự áp dụng khi chưa có bằng chứng về hiệu quả, độ an toàn.

Chuối không chỉ là loại quả quen thuộc trong bữa ăn mà còn xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian. Từ chuối xanh hỗ trợ tiêu chảy, bột chuối dùng cho người đau dạ dày đến vỏ, lá chuối được đắp lên da, nhiều cách sử dụng vẫn được truyền miệng. Tuy nhiên, lợi ích dinh dưỡng của chuối không đồng nghĩa mọi bộ phận của cây đều có tác dụng chữa bệnh.

Theo bác sĩ chuyên khoa II Huỳnh Tấn Vũ, nguyên giảng viên Khoa Y học cổ truyền, Trường Đại học Y Dược TP.HCM, chuối xanh từng được sử dụng trong các bài thuốc dân gian hỗ trợ điều trị tiêu chảy, kiết lỵ. Loại quả này chứa tinh bột kháng, có thể được hệ vi sinh đường ruột lên men, tạo ra axit béo chuỗi ngắn có lợi cho sức khỏe tiêu hóa.

Khi chín, chuối mềm hơn, cung cấp carbohydrate, kali, vitamin B6 và chất xơ. Các chất dinh dưỡng này góp phần bổ sung năng lượng, hỗ trợ hoạt động của cơ bắp và hệ thần kinh. Hàm lượng chất xơ trong chuối cũng có thể giúp cải thiện tình trạng táo bón ở một số người.

Vỏ chuối tiêu cũng được ghi nhận trong một số bài thuốc dân gian chữa đau bụng, kiết lỵ. (Ảnh minh hoạ)

Vỏ chuối tiêu cũng được ghi nhận trong một số bài thuốc dân gian chữa đau bụng, kiết lỵ. (Ảnh minh hoạ)

Một số tài liệu y học cổ truyền ghi nhận bột chuối xanh được dùng trong các bài thuốc hỗ trợ vấn đề về dạ dày. Tuy nhiên, người bị viêm loét dạ dày không nên tự dùng chuối thay thuốc hoặc coi đây là phương pháp điều trị thay thế. Việc kiểm soát bệnh vẫn cần dựa trên nguyên nhân, mức độ tổn thương và hướng dẫn của bác sĩ.

Không chỉ phần quả, vỏ chuối tiêu cũng được ghi nhận trong một số bài thuốc dân gian chữa đau bụng, kiết lỵ. Nước sắc vỏ chuối còn từng được dùng để rửa những vùng da mẩn ngứa, lở loét.

Vỏ chuối xanh chứa tannin và một số hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, sự hiện diện của các chất này chưa đủ để khẳng định vỏ chuối có thể điều trị nấm da, hắc lào hay những bệnh lý ngoài da khác.

Việc tự bôi nhựa chuối xanh hoặc dùng nước sắc chưa được kiểm chứng lên vùng da tổn thương có thể gây kích ứng, khiến người bệnh chậm tiếp cận phương pháp điều trị phù hợp. Với những tổn thương kéo dài, lan rộng hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng, người bệnh nên đi khám thay vì tiếp tục áp dụng mẹo dân gian.

Tương tự, khi bị tiêu chảy, kiết lỵ hoặc đau bụng kéo dài, người bệnh cần được đánh giá nguyên nhân. Tự uống nước sắc vỏ chuối không thể thay thế dung dịch bù nước, điện giải hoặc thuốc điều trị theo chỉ định. Đặc biệt, tiêu chảy kéo dài có thể dẫn đến mất nước và rối loạn điện giải, cần được xử trí kịp thời.

Theo kinh nghiệm dân gian, lá chuối non được giã nát để đắp lên vết thương với mục đích cầm máu hoặc làm dịu vết bỏng. Tuy nhiên, hiện chưa có đủ bằng chứng lâm sàng đáng tin cậy để xác nhận phương pháp này an toàn và hiệu quả.

Khi bị chảy máu, người dân nên dùng gạc sạch ép trực tiếp lên vết thương. Với vết bỏng, cần làm mát vùng tổn thương dưới vòi nước sạch mát trong khoảng 20 phút, không đắp lá cây, bôi nhựa chuối hay sử dụng các nguyên liệu dân gian khác. Những vết bỏng sâu, diện rộng hoặc nằm ở vị trí nhạy cảm cần được nhân viên y tế đánh giá.

Bác sĩ cũng lưu ý người dân cần phân biệt việc sử dụng chuối như một thực phẩm với việc dùng các bộ phận của cây để chữa bệnh. Những kinh nghiệm được truyền lại qua nhiều thế hệ không mặc nhiên đồng nghĩa với hiệu quả đã được khoa học chứng minh.

Chuối cung cấp carbohydrate, vì vậy người mắc tiểu đường cần tính lượng chuối ăn vào trong tổng lượng carbohydrate của bữa ăn. Điều này không có nghĩa họ phải kiêng hoàn toàn loại quả này.

Khẩu phần phù hợp cần được cân nhắc dựa trên chế độ ăn, mức đường huyết và tình trạng sức khỏe của từng người. Người bệnh nên theo dõi đường huyết theo hướng dẫn của bác sĩ, đồng thời ưu tiên chế độ ăn đa dạng, cân đối thay vì loại bỏ một thực phẩm chỉ vì lo ngại nó làm tăng đường huyết.

Nhìn chung, chuối có thể góp mặt trong chế độ ăn lành mạnh nhờ cung cấp năng lượng, vitamin, khoáng chất và chất xơ. Tuy nhiên, không nên đánh đồng giá trị dinh dưỡng của quả chuối với công dụng chữa bệnh của vỏ, lá hay nhựa chuối. Khi có triệu chứng bất thường, người bệnh cần xác định nguyên nhân và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, thay vì tự áp dụng các bài thuốc dân gian chưa được kiểm chứng.

Trong y học dân gian, chuối xanh, vỏ và lá chuối từ lâu đã được truyền miệng như những phương thuốc trị tiêu chảy, đau dạ dày hay làm dịu vết thương ngoài da. Về mặt sinh học, chuối xanh chứa tinh bột kháng hỗ trợ vi sinh đường ruột, trong khi chuối chín cung cấp kali, vitamin B6 và chất xơ có lợi cho cơ bắp cũng như hệ tiêu hóa. Dù vậy, giá trị dinh dưỡng thông thường không đồng nghĩa với việc mọi bộ phận của cây chuối đều sở hữu hoạt tính chữa bệnh thay thế y khoa hiện đại. Bác sĩ chuyên khoa II Huỳnh Tấn Vũ, nguyên giảng viên Khoa Y học cổ truyền thuộc Trường Đại học Y Dược TP.HCM, cảnh báo người dân không nên tùy tiện dùng bột chuối xanh thay thuốc trị viêm loét dạ dày. Đối với vỏ chuối, dù có chứa tannin và một số hợp chất sinh học, giới y khoa hiện vẫn chưa có đủ căn cứ lâm sàng chứng minh hiệu quả trị nấm da hay hắc lào. Việc tự ý bôi nhựa chuối hoặc đắp nước sắc chưa kiểm chứng có nguy cơ gây kích ứng nặng và làm chậm trễ thời gian vàng can thiệp y tế. Đặc biệt, thói quen giã lá chuối non đắp lên vết bỏng hay vết thương hở để cầm máu tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng do thiếu bằng chứng về độ an toàn. Bác sĩ khuyến cáo khi bị chảy máu, người bệnh cần ép gạc sạch trực tiếp, còn với vết bỏng phải xả nước sạch mát trong 20 phút thay vì đắp lá cây hay bôi nhựa thực vật. Trường hợp tiêu chảy hoặc đau bụng kéo dài cần được thăm khám nguyên nhân cụ thể, ưu tiên bù nước điện giải đúng cách thay vì lạm dụng các mẹo dân gian chưa xác thực.
amung