Chính lựa chọn quan trọng này đã đặt nền cho một nguyên tắc xuyên suốt 81 năm qua: coi con người là nguồn lực quyết định vận mệnh quốc gia. Từ phong trào Bình dân học vụ thuở lập nước đến những chủ trương, chính sách giáo dục toàn diện hôm nay, nguyên tắc đó luôn được kiên trì thực hiện bằng tư duy chiến lược nhất quán, dù không ít những thời điểm phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Việc miễn học phí phổ thông đã được thực hiện rộng rãi trên toàn quốc trong năm học 2025-2026. Sách giáo khoa đang trên lộ trình được cấp miễn phí cả nước vào năm 2029-2030. Hàng trăm ngôi trường nội trú liên cấp đã sáng đèn nơi biên viễn đúng dịp khai giảng năm nay. Phía trước vẫn còn cột mốc lớn cần được triển khai: giáo dục bắt buộc hết bậc trung học cơ sở vào năm 2030, phổ cập trung học phổ thông hoặc trình độ tương đương vào năm 2035. Từ những kết quả đã đạt được trong hơn một năm qua đến chặng đường còn lại phía trước, câu hỏi lớn nhất mà dư luận quan tâm đó là những chính sách đột phá về giáo dục được triển khai sâu rộng, mang lại hiệu quả thiết thực, đạt mục tiêu đề ra.
Nhịp độ thể chế hóa nhanh
Ngày 25/8, phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với các cơ quan liên quan về đánh giá kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: Năm học 2026-2027 - năm học đầu tiên sau Đại hội XIV, ngành giáo dục coi đây không đơn thuần là bắt đầu một năm học mới, mà là một dấu mốc chuyển trạng thái trong thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW: Từ tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo ra đổi mới thực chất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đã và sẽ tiếp tục dành sự quan tâm, cùng những điều kiện tốt nhất có thể cho giáo dục; nhưng bản thân ngành giáo dục phải đáp lại bằng một cuộc tự đổi mới mạnh mẽ, bằng trách nhiệm cao hơn và bằng chất lượng thực chất, góp phần tạo đột phá thực chất trong phát triển giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Quán triệt tinh thần đó, ngày 27/8, chủ trì Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, năm học 2026-2027 phải là năm chuyển trạng thái: Từ tập trung xây dựng thể chế sang tổ chức thực hiện có hiệu quả; từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; từ kiểm đếm công việc sang đo lường kết quả; từ đổi mới bên ngoài sang đổi mới thực chất từ bên trong mỗi nhà trường, mỗi lớp học, mỗi người thầy, mỗi người học và từ bên trong toàn ngành giáo dục.
Năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất về chất lượng dạy và học, công bằng trong tiếp cận giáo dục, năng lực của người học và niềm tin của xã hội. Mỗi nhà trường cần là nơi người học được tôn trọng, lắng nghe, khuyến khích tự học, rèn luyện kỹ năng; nơi tài năng được phát hiện, nâng đỡ và các cháu có hoàn cảnh khó khăn không bị bỏ lại phía sau. Thành tích phải gắn liền với tiến bộ thực chất của từng học sinh, sự trung thực trong dạy, học và niềm vui đến trường.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Theo Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT ngày 26/12/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ tháng 9/2026, cả nước chính thức dùng chung một bộ sách giáo khoa duy nhất mang tên "Kết nối tri thức với cuộc sống", thay cho mô hình một chương trình nhiều bộ sách đã áp dụng suốt 5 năm qua, giá sách bình quân giảm 13,3% so với trước. Đây cũng là bước chuẩn bị kỹ thuật cho lộ trình cấp miễn phí sách giáo khoa toàn quốc từ năm học 2029-2030 theo Nghị định số 271/2026/NĐ-CP, bởi nếu mỗi tỉnh vẫn chọn một bộ sách khác nhau thì không thể cho học sinh mượn sách dùng chung.
Một trong những điểm mới nổi bật hiện nay trong lĩnh vực giáo dục nằm ở tốc độ chuyển đổi số. Báo cáo tổng kết năm học 2025-2026, ngành giáo dục đang quản lý dữ liệu của khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và hơn 1,4 triệu giáo viên; hơn 16 triệu học bạ số và hơn 8 triệu văn bằng, chứng chỉ đã được số hóa. Bước sang năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu học bạ số phải được tạo lập từ dữ liệu gốc của từng trường, ký số, đồng bộ lên hệ thống chung, không yêu cầu học sinh, phụ huynh cung cấp lại những thông tin đã có sẵn, đồng thời cho phép thí điểm một nền tảng giáo dục thông minh quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát, trước khi tính đến việc nhân rộng.
Song song đó, phong trào "Bình dân học vụ số", triển khai Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai mạnh mẽ tại các trường học. Mục tiêu đặt ra đến năm 2026 toàn bộ học sinh từ cấp tiểu học phải được trang bị kiến thức, kỹ năng số phục vụ học tập, nghiên cứu, sáng tạo, đồng thời nhận biết được nguy cơ và có kỹ năng bảo đảm an toàn trên môi trường mạng. Một trợ lý ảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo, có khả năng cá nhân hóa nội dung theo trình độ người học, cũng đang được phát triển để hỗ trợ phổ cập kỹ năng số trên diện rộng.
Nhìn vào các số liệu và mốc thời gian đặt ra cho thấy ngành giáo dục đã và đang làm khá tốt, bảo đảm nhịp độ thể chế hóa nhanh được ghi nhận từ Nghị quyết 71-NQ/TW đến nay.
Kiện toàn nguồn nhân lực cho giáo dục
Tuy nhiên một hệ thống giáo dục không vận hành bằng văn bản và hạ tầng số, mà còn cần đội ngũ giáo viên đứng lớp mỗi ngày. Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đây lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam có một đạo luật riêng quy định đầy đủ vị trí, quyền, nghĩa vụ và chính sách cho nhà giáo. Trong đó, Điều 17 quy định cụ thể các trường hợp điều động, biệt phái, thuyên chuyển và dạy liên trường, liên cấp: từ việc bố trí lại nhân sự do sắp xếp cơ sở giáo dục hay giải quyết tình trạng nơi thừa, nơi thiếu giáo viên cục bộ, đến việc tăng cường nhân lực cho những cơ sở giáo dục yếu kém.
Luật cũng tính đến yếu tố nhân văn khi loại trừ một số trường hợp khỏi diện điều động, như giáo viên nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, giáo viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Kèm theo đó, nhà giáo dạy liên trường, biệt phái còn được hưởng phụ cấp lưu động theo quy định tại Điều 24.
Cục trưởng Cục Nhà giáo và Quản lý giáo dục Vũ Minh Đức chia sẻ: “Bước ngoặt lớn nhất khi Luật Nhà giáo đi vào đời sống là bước chuyển tư duy từ “quản lý nhà giáo như một viên chức thông thường” sang “quản trị và phát triển nguồn nhân lực đặc thù”. Luật Nhà giáo hiện hành đã xác lập hành lang pháp lý vững chắc, bảo vệ danh dự, nhân phẩm và tạo không gian sáng tạo tối đa cho thầy cô.
Đồng thời, Điều 26 của Luật cho phép giáo viên mầm non, nếu có nguyện vọng, được nghỉ hưu sớm hơn tối đa 5 năm so với tuổi chung mà không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu nếu đã đóng đủ từ 15 năm bảo hiểm xã hội trở lên. Song song đó, tại Điều 27 quy định nhà giáo có trình độ cao được tạo điều kiện nghỉ hưu muộn hơn tối đa 10 năm để tiếp tục đóng góp chuyên môn. Hai chính sách này cho thấy một cách tiếp cận linh hoạt hơn so với giai đoạn trước đây: Không áp một khung tuổi nghỉ hưu cứng nhắc cho mọi nhà giáo, mà điều chỉnh theo đặc thù công việc và nguyện vọng cá nhân.
Từ những công cụ pháp lý minh bạch, để vận hành thông suốt ở từng địa bàn cụ thể cần sự vào cuộc đồng bộ, nhất là tại những nơi vừa có trường mới như các xã biên giới. Một ngôi trường nội trú liên cấp dù khang trang nhưng sẽ khó giữ chân giáo viên lâu dài nếu không đi kèm chính sách đãi ngộ đủ sức cạnh tranh, điều kiện sinh hoạt phù hợp và cơ hội phát triển chuyên môn tương đồng với các đồng nghiệp ở khu vực thuận lợi hơn. Thực tế nhiều năm qua tại các địa bàn khó khăn cho thấy một tình trạng khá phổ biến: giáo viên trẻ được phân công lên vùng cao, vì nhiều lý do, chỉ sau một thời gian ngắn thường tìm cách xin chuyển vùng, khiến chất lượng dạy học khó ổn định lâu dài, cho dù cơ chế điều động, dạy liên trường liên cấp đã có trong luật.
Nếu vòng lặp này không được xử lý căn cơ bằng chính sách đãi ngộ thực chất đi kèm, những ngôi trường mới xây ở biên giới, vốn là thành quả đáng tự hào của một chương trình đầu tư công thần tốc, có nguy cơ rơi vào một nghịch lý đáng tiếc: cơ sở vật chất hiện đại nhưng đội ngũ giảng dạy thiếu ổn định. Đây chính là phép thử thực sự cho tính bền vững của cả chương trình.
Củng cố các nguồn lực cho giáo dục
Quy mô ngân sách dành cho giáo dục hiện nay là chưa từng có trong lịch sử ngành: riêng khoản miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non và học sinh phổ thông đã lên tới khoảng 30.600 tỷ đồng mỗi năm, chưa kể hàng loạt khoản đầu tư khác cho trường lớp, sách giáo khoa và hạ tầng số. Nguồn lực càng lớn, yêu cầu giám sát, bảo đảm từng đồng ngân sách đến đúng địa chỉ càng trở nên cấp thiết, bởi thực tế cho thấy miễn học phí không tự động đồng nghĩa với việc gia đình học sinh hết gánh nặng chi phí đầu năm học.
Như trong năm học 2025-2026, tình trạng lạm thu dưới danh nghĩa các khoản đóng góp "tự nguyện" vẫn diễn ra ở không ít nơi. Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Lê Tấn Dũng thừa nhận tại một cuộc họp báo Chính phủ năm 2025 rằng dù đã nhiều lần chấn chỉnh, tình trạng này chưa chấm dứt. Bộ cũng đã đưa ra một loạt giải pháp như: công khai khoản thu chi từ đầu năm học, không gộp nhiều khoản thu làm một, không thu trước nhiều kỳ, không lợi dụng danh nghĩa ban đại diện cha mẹ học sinh để thu vượt quy định, đồng thời ban hành danh mục khoản cấm thu và tăng cường thanh tra, kiểm tra.
Bước vào năm học 2026-2027, nhiều địa phương đã chủ động siết chặt hơn vấn đề này ngay từ trước ngày khai giảng. Tiêu biểu như Thành phố Hồ Chí Minh, cuối tháng 7/2026, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố đã có văn bản gửi tới toàn bộ 168 phường, xã và gần 3.500 cơ sở giáo dục trên địa bàn, yêu cầu không tổ chức thu bất kỳ khoản tiền nào đối với những nội dung đã thuộc phạm vi ngân sách nhà nước bảo đảm, nghiêm cấm quy định mức tài trợ bình quân hay giao chỉ tiêu vận động cho từng lớp, từng trường. Đây là cách làm đáng tham khảo cho nhiều địa phương khác: thay vì chờ dư luận phản ánh rồi mới xử lý từng vụ việc riêng lẻ, chủ động công khai quy định trước khi năm học bắt đầu.
Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang cho thấy hình ảnh rõ nét của một địa phương có điều kiện ngân sách chủ động "đi trước" trên nhiều chính sách giáo dục cùng lúc. Từ tháng 11/2025, thành phố quyết định hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế cho toàn bộ hơn hai triệu học sinh trên địa bàn, thay vì mức hỗ trợ 50% theo quy định chung, và tiếp tục duy trì chính sách này trong năm học 2026-2027. Song song đó, thành phố đang xây dựng đề án chuyển đổi 41 trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, nơi có hơn 69.000 học viên theo học, thành 37 trường trung học nghề tương đương bậc trung học phổ thông, một mô hình giáo dục mới theo Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi, hướng tới kết hợp học văn hóa với đào tạo nghề ngay trong quá trình phổ thông, thay vì tách bạch như trước.
Sự chủ động này là tín hiệu tích cực, nhưng cũng đặt ra một câu hỏi được dư luận quan tâm: khi các địa phương có điều kiện khác nhau được phép đi trước theo khả năng ngân sách riêng, khoảng cách thụ hưởng chính sách giữa các tỉnh, thành có nguy cơ tạo ra sự chênh lệch trong giai đoạn chuyển tiếp. Cho phép nơi có điều kiện đi trước, đồng thời ưu tiên nguồn lực trung ương cho vùng khó khăn nhất, hợp lý hơn so với việc buộc tất cả chờ nhau ở cùng một tốc độ. Nhưng điều đó cũng đòi hỏi một cơ chế giám sát xuyên suốt ở cấp Trung ương, để khoảng cách ấy chỉ là tạm thời, nhằm bảo đảm cho mọi học sinh trên cả nước đều phải được thụ hưởng chính sách như nhau với lộ trình rõ ràng.
Nhìn lại sự chuyển động của giáo dục Việt Nam từ khi thành lập nước ngày 2/9/1945 đến nay, có thể thấy một mạch tư duy xuyên suốt 81 năm: Coi con người là nguồn lực quyết định vận mệnh quốc gia, và từng bước hiện thực hóa điều đó bằng những quyết sách đúng đắn, được thể chế hóa và triển khai hiệu quả trên thực tiễn, được kiểm chứng bằng con số, bằng những ngôi trường đã mọc lên. Nhưng hành trình ấy sẽ không thể đi trọn vẹn nếu chỉ trông cậy vào chính sách từ cấp trung ương. Trách nhiệm cần được san sẻ đến từng cấp, từng người: chính quyền địa phương giám sát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách được phân bổ, mỗi nhà trường biến điều kiện thuận lợi hiện có thành chất lượng dạy và học thực chất, mỗi thầy cô giáo cần được tạo điều kiện để gắn bó lâu dài với nơi mình đang dạy, và mỗi gia đình, khi không còn gánh nặng học phí, tiền sách đầu năm, có thêm thời gian đồng hành sát sao hơn với việc học của con em mình.
Tám mươi mốt năm trước, một dân tộc từng đứng lên diệt giặc dốt bằng những lớp học bình dân, người biết chữ dạy người chưa biết, không công, không bục giảng. Hôm nay, khi ranh giới giữa biết chữ và mù chữ đã lùi xa, một ranh giới khác đang hình thành, giữa nắm được công nghệ và bị bỏ lại phía sau nó. Vượt qua ranh giới ấy, không chỉ thụ động chờ chính sách ban hành, mà mỗi người tự nguyện góp một phần công sức. Chung tay vì sự nghiệp trồng người, không phải một khẩu hiệu, mà chính là cách một dân tộc đã, và đang, kiến tạo tương lai bền vững cho mình bằng sức mạnh của toàn dân.
PHONG ĐIỆP