Bỏ qua điều hướng
•

Bài toán về giá trị dòng vốn

Bài toán về giá trị dòng vốn
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Năm 2026 được coi là thời điểm bản lề của TP Đà Nẵng, với nhiều kỳ vọng về dòng vốn FDI. Nhưng đằng sau những con số vốn đăng ký tăng mạnh, diện tích đất công nghiệp đã lấp đầy, vẫn còn những điểm nghẽn ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất thực tế. Vấn đề đặt ra là phải xác định đúng khâu gây trở ngại th...

Vốn đăng ký tăng mạnh, giá trị thực chưa theo kịp

Theo số liệu từ Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA), chỉ trong 9 tháng năm 2026, các khu chức năng do đơn vị quản lý đã thu hút mới 16 dự án, gồm 4 dự án FDI với tổng vốn hơn 146 triệu USD và 12 dự án trong nước với tổng vốn 17 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế đến ngày 30/9/2026, địa phương có 668 dự án, trong đó 183 dự án FDI với tổng vốn 2,7 tỷ USD và 485 dự án trong nước với gần 70 nghìn tỷ đồng. So cùng kỳ năm 2025, vốn FDI đăng ký mới tăng gần gấp ba lần, vốn đầu tư trong nước tăng gần gấp đôi.

Tuy nhiên, ông Phan Thái Bình, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng nhấn mạnh, thành phố cần tập trung thu hút dự án chất lượng cao, phát triển bền vững.

Giá trị thật sự của dòng vốn nằm ở quá trình triển khai, giải ngân, tạo việc làm chất lượng cao, đóng góp ngân sách, mở rộng xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và hình thành liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là yêu cầu được đặt ra trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Thực tế tại các khu công nghiệp (KCN) Đà Nẵng cho thấy bức tranh không đồng đều. Tại KCN Cơ khí ô-tô Chu Lai - Trường Hải, tỷ lệ lấp đầy đạt 85%. Còn tại 8 KCN đang hoạt động với tổng diện tích quy hoạch khoảng 1.740,6 ha có tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%.

Ba nhóm nghẽn và bài toán xác định đúng khâu trở ngại

Theo ông Vũ Quang Hùng, Trưởng ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp thành phố, các vướng mắc hiện nay tập trung vào ba nhóm chính.

Thứ nhất, hạ tầng các KCN đầu tư bằng ngân sách hình thành từ sớm, sau hơn 20 năm khai thác đã xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại.

Thứ hai, đất đai, nghĩa vụ tài chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại một số KCN chưa được xử lý dứt điểm, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và tâm lý doanh nghiệp.

Thứ ba, nền tảng pháp lý của một số khu, điểm sản xuất chưa hoàn chỉnh theo mô hình KCN, dẫn đến khó khăn trong quản lý nhà nước và áp dụng cơ chế đặc thù.

Đáng chú ý, vấn đề giải phóng mặt bằng vẫn là khâu then chốt. Hiện nay tỷ lệ giải phóng mặt bằng mới đạt khoảng 60%.

Nghị quyết 10-NQ/TW chỉ rõ hạn chế về tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Đà Nẵng có thể xây dựng chương trình kết nối riêng, lập cơ sở dữ liệu doanh nghiệp cung ứng linh kiện, bao bì… để giới thiệu trực tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu thiếu khâu này, vốn FDI dù lớn vẫn có thể "đứng ngoài".

Cuối cùng, không thể bỏ qua khâu chất lượng dòng vốn. Quy mô vốn FDI đang tăng nhanh hơn số lượng dự án. Nhưng nếu không có "bộ lọc" theo tiêu chí công nghệ, giá trị gia tăng, mức đóng góp ngân sách, tiêu chuẩn môi trường… thì đất có lấp đầy cũng chưa chắc hiệu quả.

Năm 2026 được xác định là năm bản lề. Thành phố đang tập trung quy hoạch, dành nguồn lực đầu tư theo định hướng không gian phát triển thành 2 vùng đông và tây, thúc đẩy 6 lĩnh vực mũi nhọn gắn với hình thành 6 động lực tăng trưởng. Nhưng để những định hướng đó thành hiện thực, bài toán lớn đang đặt ra với các cấp ngành của địa phương là: dòng vốn đó phải tạo ra giá trị gì cho thành phố, liên kết thế nào với doanh nghiệp trong nước và đóng góp ra sao vào quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Đại Kim

Dù ghi nhận mức tăng trưởng vốn đăng ký ấn tượng trong 9 tháng đầu năm 2026, TP Đà Nẵng đang đối diện thách thức lớn trong việc chuyển hóa quy mô dòng vốn thành giá trị thực tế. Số liệu từ Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng cho thấy vốn FDI đăng ký mới tăng gần gấp ba lần cùng kỳ năm 2025, nâng tổng số vốn FDI lũy kế lên 2,7 tỷ USD. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư vẫn chịu áp lực lớn từ tỷ lệ giải ngân, mức đóng góp ngân sách và năng lực chuyển giao công nghệ cho kinh tế địa phương. Thực trạng sản xuất tại các khu công nghiệp hiện bộc lộ ba điểm nghẽn mang tính cốt lõi cần sớm tháo gỡ. Nhiều hạ tầng xây dựng bằng ngân sách sau hơn 20 năm khai thác đã xuống cấp, trong khi vướng mắc về nghĩa vụ tài chính đất đai và khung pháp lý chưa hoàn chỉnh tiếp tục gây trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt, công tác giải phóng mặt bằng mới đạt khoảng 60%, trở thành nút thắt trực tiếp kìm hãm tiến độ triển khai các dự án quy mô lớn. Nhằm hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, thành phố cần chủ động xây dựng mạng lưới liên kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với chuỗi cung ứng nội địa. Việc thiết lập cơ sở dữ liệu doanh nghiệp phụ trợ sẽ giúp giữ chân giá trị gia tăng ở lại thị trường trong nước thay vì để nguồn vốn FDI hoạt động biệt lập. Song song đó, một cơ chế thẩm định chặt chẽ về công nghệ và môi trường sẽ quyết định tính bền vững của các mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn bản lề này.
amung