Bỏ qua điều hướng
•

Lý do Ukraine phụ thuộc hoàn toàn vào cảnh báo tên lửa từ Mỹ

Lý do Ukraine phụ thuộc hoàn toàn vào cảnh báo tên lửa từ Mỹ
Nguồn ảnh: VnExpress

Chỉ có Mỹ đủ sức cung cấp cảnh báo về tên lửa đạn đạo Nga, khiến Ukraine không có lựa chọn thay thế dù quan hệ song phương xấu đi.

Tổng thống Volodymyr Zelensky ngày 20/10 thông báo Ukraine đã tiếp tục nhận được cảnh báo sớm về đòn tập kích tên lửa của Nga sau các cuộc trao đổi với giới chức Mỹ, trong đó có cuộc điện đàm giữa ông và Ngoại trưởng Marco Rubio. "Chúng tôi biết ơn Mỹ vì hệ thống này đã hoạt động", lãnh đạo Ukraine cho hay.

Trong vòng một tuần trước đó, Ukraine khẳng định không nhận được cảnh báo về các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Nga, dù Tổng thống Donald Trump và các quan chức dưới quyền cho biết Washington vẫn duy trì chia sẻ thông tin tình báo cho Kiev.

Kiev rung chuyển, Patriot 'im hơi lặng tiếng' giữa đòn tập kích của Nga     Kiev rung chuyển, Patriot 'im hơi lặng tiếng' giữa đòn tập kích của Nga

Khoảnh khắc được cho là tên lửa Nga lao xuống khu vực phía đông Kiev trong video đăng ngày 19/10. Video: X/AMK Mapping

Tình trạng này cho thấy mức độ phụ thuộc của Ukraine vào năng lực trinh sát và cảnh báo sớm của Mỹ, nhất là khi Tổng thống Zelensky từng nhấn mạnh Mỹ là "bên duy nhất có nguồn tình báo chính xác" về thời điểm Nga phóng tên lửa đạn đạo.

Hệ thống cảnh báo tên lửa của Mỹ hoạt động thế nào

Luồng xả động cơ tên lửa tạo ra nguồn nhiệt rất lớn, tương phản rõ rệt so với bề mặt Trái Đất và nền nhiệt trên không gian. Cảm biến hồng ngoại trên vệ tinh có thể ghi nhận tín hiệu này chỉ vài giây sau khi động cơ được kích hoạt cho đến khi động cơ ngừng hoạt động và nguội hẳn.

Các vệ tinh này sẽ truyền dữ liệu xuống radar, trạm xử lý mặt đất để xác định thời gian và địa điểm phóng, chủng loại tên lửa, quỹ đạo và điểm va chạm dự kiến. Thông tin sẽ được chuyển tiếp cho Bộ tư lệnh Phòng không Bắc Mỹ (NORAD) và các bộ tư lệnh tác chiến khác.

Từ thời Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã phóng hàng loạt vệ tinh trang bị nhiều loại cảm biến nhằm phát hiện và theo dõi các vụ phóng tên lửa đạn đạo của đối phương.

Nền tảng chính là Chương trình Hỗ trợ Quốc phòng (DSP) được khởi động vào những năm 1970, sau khi chương trình Hệ thống Cảnh báo Phòng thủ Tên lửa (MIDAS) mang tính thử nghiệm hồi thập niên 1960 chứng minh được tính khả thi của phát hiện các vụ phóng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa từ không gian.

Hệ thống SBIRS. Đồ họa: BQP Mỹ

Chương trình SBIRS. Đồ họa: BQP Mỹ

Trong khuôn khổ DSP, Mỹ đã phóng hơn 20 vệ tinh mang theo cảm biến hồng ngoại lên quỹ đạo địa đồng bộ (GSO) trong giai đoạn 1970-2007. DSP đã cung cấp cảnh báo chiến lược trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cũng là hệ thống phát hiện tên lửa đạn đạo chiến thuật Scud của Iraq khai hỏa trong Chiến tranh Vùng Vịnh.

Tiếp nối DSP là Hệ thống Hồng ngoại Không gian (SBIRS), với chủ lực là 6 vệ tinh hoạt động trên quỹ đạo địa tĩnh quanh Trái Đất, được phóng lên vũ trụ trong giai đoạn 2011-2022. Các vệ tinh SBIRS trang bị hệ thống cảm biến kép và có độ nhạy vượt trội đáng kể, kèm khả năng quan sát nhiều dải phổ, độ phân giải cao hơn và năng lực xử lý dữ liệu mặt đất được cải thiện so với DSP.

Cảm biến hồng ngoại hiệu suất cao trên các vệ tinh SBIRS có khả năng hoạt động độc lập, cho phép một vệ tinh vừa bao quát những vùng lãnh thổ rộng lớn vừa tập trung giám sát một khu vực cụ thể.

SBIRS đủ khả năng phát hiện mọi vụ phóng tên lửa, từ tên lửa đạn đạo chiến thuật cho đến ICBM. Tuy nhiên, hệ thống này không thể theo dõi tên lửa hành trình, do nguồn nhiệt nhỏ hơn nhiều so với tên lửa đạn đạo và chúng thường bay thấp, qua những khu vực mà vệ tinh khó quan sát.

Một trong các vệ tinh GEO thuộc hệ thống SBIRS trong quá trình thử nghiệm. Ảnh: Lockheed Martin

Một trong các vệ tinh GEO thuộc hệ thống SBIRS trong quá trình thử nghiệm. Ảnh: Lockheed Martin

SBIRS còn sử dụng các vệ tinh hoạt động ở quỹ đạo elip cao (HEO) và thiết bị thuộc DSP. Vệ tinh HEO giúp tăng cường khả năng giám sát khu vực có vĩ độ cao hoặc nằm ở vùng cực, vốn khó theo dõi hiệu quả nếu chỉ dựa vào vệ tinh GEO.

"Mạng lưới vệ tinh GEO, HEO và DSP cung cấp khả năng giám sát bề mặt Trái Đất liên tục 24/7 và phát hiện được vụ phóng tên lửa ở mọi địa điểm trên thế giới", biên tập viên Sumit Ahlawat của chuyên trang quân sự Eurasian Times nhận xét.

Ukraine không thể dựa vào châu Âu

Thông tin thường được Mỹ chia sẻ cho các đồng minh ở châu Âu thông qua Hệ thống Cảnh báo sớm Chung (SWES) của NATO. Dữ liệu này sẽ được bổ trợ bởi thông tin từ các máy bay cảnh báo sớm và radar cảnh giới tầm xa ở châu Âu, trong đó có tổ hợp AN/FPS-132 tại căn cứ không quân Fylingdales ở Anh.

Tuy nhiên, châu Âu không có hệ thống cảnh báo sớm trên vũ trụ tương đương với Mỹ, dù vẫn sở hữu một số năng lực nhận thức tình huống nhất định.

"Không chỉ Ukraine mà cả châu Âu cũng phụ thuộc vào Mỹ để được cảnh báo sớm về các mối đe dọa từ tên lửa đạn đạo. Châu Âu không thể lấp đầy khoảng trống nếu Mỹ quyết định ngừng chia sẻ cảnh báo tên lửa với Ukraine", Ahlawat nhận định.

Nhiều quốc gia châu Âu đã theo đuổi năng lực này trong nhiều năm, nhưng các chương trình của họ chưa vượt qua được giai đoạn trình diễn công nghệ.

Pháp hồi năm 2009 triển khai SPIRALE, chương trình thử nghiệm công nghệ cảnh báo sớm từ không gian, và đã thu thập thành công dữ liệu hồng ngoại về các vụ phóng tên lửa. Tuy nhiên, SPIRALE kết thúc vào năm 2011 và đến nay Pháp chưa triển khai dự án tiếp nối với quy mô đầy đủ.

Tên lửa Iskander-M được khai hỏa tại thao trường Kapustin Yar, Nga tháng 3/2018. Ảnh: BQP Nga

Tên lửa Iskander-M khai hỏa tại thao trường Kapustin Yar, Nga tháng 3/2018. Ảnh: BQP Nga

Các nước châu Âu cũng khởi động một dự án trình diễn công nghệ khác mang tên TWISTER vào năm 2019. Pháp và Đức hồi tháng 10/2025 cũng ký ý định thư về triển khai hai vệ tinh GEO có cảm biến hồng ngoại trong khuôn khổ chương trình JEWEL.

"Châu Âu nhận thức được điểm yếu của mình và đã chứng minh được năng lực công nghệ. Tuy nhiên, họ vẫn cần ít nhất 10 năm nữa để xây dựng mạng lưới vệ tinh mang cảm biến hồng ngoại, có khả năng giám sát liên tục mọi khu vực trên bề mặt Trái Đất", Ahlawat nhận định.

Phạm Giang (Theo AP, Eurasian Times)

Việc Tổng thống Volodymyr Zelensky xác nhận nối lại mạng lưới cảnh báo sớm sau cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Marco Rubio đã phản ánh rõ thế phụ thuộc của Kiev. Sau khoảng một tuần gián đoạn khiến các tổ hợp phòng không lúng túng trước đòn tập kích đạn đạo của Nga, dòng dữ liệu chiến thuật từ Washington một lần nữa chứng minh vai trò sống còn. Sự kiện này cho thấy Ukraine hiện không có phương án thay thế khả dĩ ngoài nguồn tin tình báo không gian của Mỹ. Về mặt kỹ thuật, Washington sở hữu ưu thế tuyệt đối nhờ mạng lưới vệ tinh quân sự chuyên dụng theo dõi luồng nhiệt xả từ động cơ tên lửa. Cảm biến hồng ngoại trên quỹ đạo có thể bắt trọn tín hiệu khai hỏa chỉ sau vài giây và lập tức chuyển dữ liệu về các trạm mặt đất thuộc Bộ tư lệnh Phòng không Bắc Mỹ. Quy trình xử lý này cho phép xác định chính xác chủng loại vũ khí, quỹ đạo bay và vị trí chạm nổ dự kiến trước khi mục tiêu tiếp cận không phận. Năng lực trinh sát đó được tích lũy xuyên suốt từ thời Chiến tranh Lạnh với hơn 20 vệ tinh thuộc Chương trình Hỗ trợ Quốc phòng giai đoạn 1970-2007. Kế thừa nền tảng này, Hệ thống Hồng ngoại Không gian gồm 6 vệ tinh địa tĩnh phóng từ năm 2011 đến năm 2022 đã nâng tầm cảnh giới với độ phân giải và độ nhạy vượt trội. Nhờ cảm biến kép vừa quét diện rộng vừa soi chiếu điểm nóng, mạng lưới của Mỹ là chiếc ô thông tin duy nhất đủ sức bảo vệ Kiev trước hiểm họa tên lửa.
amung