Chuyên đề Nhất trống: Một tiếng trống - Ngàn năm văn hiến được trưng bày tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám kể lại câu chuyện đậm đà bản sắc văn hóa về chiếc trống Việt Nam. Từ lễ hội làng, nghi lễ tín ngưỡng đến trường học, tiếng trống luôn là nhịp điệu gắn kết sức sống của cộng đồng.
Bí quyết "da trâu, tang mít" của làng nghề hơn nghìn năm tuổi
Chia sẻ với phóng viên VietNamNet, ông Phạm Trí Trong - Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề trống Đọi Tam (Ninh Bình) tự hào về di sản hơn 1.000 năm tuổi của quê hương, bắt đầu từ thời cụ tổ làng nghề sinh năm 925. Trải qua bao thăng trầm, thế hệ hậu bối Đọi Tam vẫn kiên tâm gìn giữ bí quyết chế tác: tang trống bắt buộc làm bằng gỗ mít, mặt trống phải bưng bằng da trâu và chỉ truyền nghề cho con trai.
Ông Trong đọc lại câu ca dao truyền miệng: "Da trâu, tang mít. Đánh ít, kêu nhiều" để tri ân con vật gắn bó với nền văn minh lúa nước. Con trâu lúc sống cày ruộng giúp dân, khi chết đi vẫn hiến dâng lớp da bền bỉ để tạo nên thanh âm hòa vào đời sống.
Về hình thái, trống Đọi Tam có độ bầu đặc trưng và tỷ lệ cân đối giữa mặt - tang trống. Nhờ kỹ thuật đúc rút từ ngàn năm, người thợ có thể tạo ra dải âm thanh vô cùng đa dạng từ thanh đến trầm, to đến nhỏ, phù hợp cho từng không gian đặc thù như đình chùa, tế lễ hay trường học. Sự độc đáo ấy khiến tiếng trống Đọi Tam mang một sắc thái riêng biệt, đi từ Nam chí Bắc chỉ cần gõ lên là nhận ra ngay, không thể bị hòa lẫn.
Những chiếc trống độc bản của đại ngàn Tây Nguyên
Theo nhà sưu tập Nguyễn Minh Tâm, trống Tây Nguyên không phải là vật dụng phổ thông. Chỉ những gia đình giàu có, quyền lực và có điều kiện trong buôn làng mới có khả năng làm trống. Quá trình chế tác trống của đồng bào nơi đây mang đậm màu sắc huyền bí và hoàn toàn khác biệt.
Việc làm trống bắt đầu từ một nghi thức vô cùng khắt khe bắt đầu từ lúc chọn cây. Người ta phải vào tận rừng sâu tìm những cây gỗ tốt, thẳng tuột, đường kính trên 1m, không có dây leo quấn quanh, không có tổ ong, không cụt ngọn và đặc biệt là không bị rỗng ruột.
Khi đã nhắm được cây, một đoàn gồm 7 thanh niên trai tráng mang theo khiên, giáo mác, dắt theo một con lợn và rượu vào rừng để cúng thần cây. Để biết thần cây có đồng ý hiến mình làm trống hay không, người giỏi nhất trong nhóm sẽ phóng một chiếc rìu cắm phập vào thân cây rồi tất cả ra về. “Ngày hôm sau, khi họ quay lại, nếu cái rìu vẫn còn cắm chặt trên cây có nghĩa là thần cây đã đồng ý cho hạ ngả”, ông Tâm chia sẻ.
Ngay cả khi cây đổ, người dân cũng tính toán để cây ngả về phía đồi cao chứ không ngả xuống suối. Một khúc gỗ dài khoảng 1m được cắt ra, đẽo gọt thành tang trống ngay giữa rừng rồi mới đưa về nhà. Lễ nghi chưa dừng lại ở đó, trước khi đi rừng, người ta phải mổ bò, mổ trâu để cúng thần rừng và khi rước được tang trống về nhà, một con trâu cái sẽ được giết thịt để khao cả buôn làng, đồng thời lấy chính tấm da đó để bịt mặt trống.
Ngày nay, để làm được một chiếc trống độc mộc nguyên khối như xưa là điều gần như không thể. “Bây giờ bảo tồn rất khó. Luật bảo vệ rừng rất nghiêm ngặt, không ai dám chặt những cây gỗ khổng lồ nữa. Da trâu rừng cũng vô cùng khan hiếm mà phải cần tới hai tấm da lớn mới làm xong một chiếc trống”, ông Tâm chia sẻ.
Sự độc đáo của trống Tây Nguyên còn nằm ở cấu tạo âm dương mang đậm dấu ấn của chế độ mẫu hệ. Một chiếc trống luôn có hai mặt: mặt đực và mặt cái. Mặt trống cái được làm từ da con trâu cái, bao giờ cũng to hơn mặt đực khoảng 2-3cm và được kích tang rất căng. Chính vì sự tôn trọng tuyệt đối với chế độ mẫu hệ, mặt trống cái chỉ được gõ vào những dịp lễ hội trọng đại của buôn làng như lễ mừng nhà rông, cúng bến nước. Trong khi đó, mặt trống đực làm từ da trâu đực chỉ được dùng trong phạm vi gia đình nhỏ.
Da bịt trống Tây Nguyên dày bằng cả đốt ngón tay vì người đồng bào không bào mỏng da như các nơi khác. Nhờ vậy, âm thanh của trống không vang đi rất xa nhưng lại trầm hùng và cực kỳ lắng đọng. Tiếng trống vang lên, người nghe có thể phân biệt ngay buôn làng đang tổ chức lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả (Pơ Thi) hay đón khách quý.
Một chi tiết vô cùng thú vị và tinh tế được nhà sưu tập Nguyễn Minh Tâm hé lộ, đó là trên mỗi mặt trống luôn được dùi một lỗ nhỏ chừng 5 ly. “Người ta dùi lỗ nhỏ như vậy là để 'xỏ tai' cho trống. Họ quan niệm làm vậy chiếc trống mới có thể nghe được tiếng người, thấu hiểu được tiếng phải, tiếng trái và tâm ý của con người”, ông Tâm chia sẻ.
Trống Tây Nguyên là vật linh thiêng, là cầu nối giữa con người và thần linh (Yàng). Do đó, trống không bao giờ được đặt dưới đất. Trong nhà rông, trống được treo trang trọng ở chính giữa; ở nhà dài, trống được đặt trên chiếc ghế dài Kpan thiêng liêng.
Quyền uy của chiếc trống lớn đến mức không ai được phép tùy tiện sờ vào mặt trống hay gõ trống vui đùa. Muốn đánh trống, gia chủ phải làm lễ cúng gồm một con gà, một ché rượu và một ít cháo để xin phép thần linh. Người đánh trống cũng được "kén" rất kỹ. Chỉ có chủ nhân thực sự của chiếc trống hoặc già làng, trưởng bản mới có quyền gióng lên những hồi trống thiêng.
Thanh âm linh thiêng thấm vào máu thịt người Việt
Trong bối cảnh âm nhạc điện tử lên ngôi, tiếng trống truyền thống vẫn giữ một vị trí độc tôn. Nghệ nhân Phạm Trí Trong đúc kết: "Tiếng trống linh thiêng thấm nhuần vào trí nhớ người Việt Nam trong mọi lúc, mọi nơi.
Mỗi nhịp điệu mang một thông điệp xã hội sâu sắc: 1 hồi 3 tiếng báo hiệu khai cuộc niềm vui; 3 hồi 9 tiếng vang lên giữa không gian tĩnh lặng lại là lời thôi thúc con cháu tụ hội về quê hương. Tiếng trống đi qua vô vàn cung bậc cảm xúc, từ rộn rã ngày khai trường, hào hùng giục giã tinh thần yêu nước đến da diết, nỉ non đưa tiễn một kiếp người".
Nhà sưu tập Nguyễn Minh Tâm nhìn nhận tiếng trống trầm hùng của Tây Nguyên chính là tiếng gọi của đại ngàn, là sợi dây tâm linh nối liền mạch sống của buôn làng từ quá khứ đến hiện tại. Hơn cả một nhạc cụ, tiếng trống qua bàn tay chế tác của các nghệ nhân đã thực sự trở thành chiếc cầu nối tâm giao, gắn kết cộng đồng và lưu giữ quốc hồn quốc túy của dân tộc cho đến mãi mai sau.