Thay vì tập trung nuôi vào vụ thuận như nhiều hộ dân, ông Đặng Văn Bảy (55 tuổi) - hộ nuôi tôm công nghệ cao tại xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long, dành phần lớn diện tích cho vụ nghịch.
Theo ông, những năm gần đây, giá tôm giảm trong khi chi phí sản xuất và rủi ro vẫn lớn. Việc đầu tư công nghệ để nuôi vào thời điểm nguồn cung thấp hơn giúp ông tránh cạnh tranh trực tiếp với số đông hộ nuôi. “Nuôi một con tôm trong mùa nghịch bằng hai con tôm trong mùa thuận”, ông Bảy nói.
Bỏ cách nuôi cũ, đầu tư công nghệ cao
Ông Bảy bén duyên với con tôm cách đây khoảng 25 năm. Khi đó, xã Thạnh Phong chỉ có vài hộ nuôi tôm. Nhận thấy vùng đất giáp biển có lợi thế, ông mạnh dạn đầu tư.
Những năm đầu, việc nuôi tôm không hề dễ dàng. Kinh nghiệm hạn chế, thời tiết bất lợi khiến tôm chết hàng loạt. Tuy nhiên, ông không bỏ cuộc mà tiếp tục học hỏi, từng bước cải thiện môi trường và kỹ thuật nuôi.
“Tôi nuôi tôm chủ yếu phụ thuộc vào lợi thế đất đai tự nhiên, luôn gặp khó khăn và không có dư”, ông Bảy nhớ lại.
Từ năm 2001, người dân địa phương bắt đầu chuyển sang nuôi tôm công nghiệp. Tuy nhiên, phương thức sản xuất khi đó còn đơn giản, chủ yếu dựa vào ao đất nên hiệu quả chưa cao.
Sau nhiều năm nuôi theo phương thức truyền thống, bước ngoặt đến vào năm 2017, khi ông quyết định đầu tư toàn bộ vốn liếng để chuyển sang mô hình nuôi tôm công nghệ cao khép kín.
Trước đây, với mỗi hecta đất, người nuôi thường bố trí khoảng 2 ao nuôi, mỗi ao có diện tích mặt nước 4.000m2, phần còn lại dành cho ao lắng và xử lý nước. Với mô hình công nghệ cao, ông Bảy chỉ bố trí khoảng 1.500m2 mặt nước cho ao nuôi thương phẩm, phần diện tích còn lại được phân chia thành các ao ương, ao lắng và ao xử lý nước.
Cách làm này cho phép ông kiểm soát nguồn nước, thả tôm với mật độ cao và liên tục bổ sung nguồn nước sạch. Nhờ đó, tôm lớn nhanh, ít bệnh, năng suất cao hơn nhiều so với cách nuôi thông thường.
Dùng nhà lưới để “giảm sốc” cho tôm
Một trong những giải pháp được ông Bảy đặc biệt chú trọng là xây dựng nhà lưới, phủ lên khu vực ao nuôi. Theo ông, giải pháp này hạn chế sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ, một trong những yếu tố khiến tôm dễ bị sốc và phát sinh bệnh.
Ông dẫn chứng, khi nhiệt độ môi trường khoảng 30 độ C, một trận mưa lớn có thể khiến nhiệt độ nước ao giảm xuống 25-26 độ C. Sự thay đổi đột ngột này khiến tôm dễ bị sốc, giảm sức ăn và tăng nguy cơ phát sinh bệnh.
Trong khi đó, tại các ao được che bằng nhà lưới, nhiệt độ nước biến động chậm hơn. Khi trời mưa, mức nhiệt chỉ giảm khoảng 1-2 độ C, sau đó tăng dần khi thời tiết nắng trở lại.
“Làm như vậy thì con tôm sẽ ít sốc hơn, ít bị bệnh hơn”, ông Bảy giải thích.
Nhà lưới cũng phát huy tác dụng khi thời tiết nắng nóng hoặc lạnh. Theo ông Bảy, vào những ngày nắng nóng, nhiệt độ bên trong khu vực nuôi thường thấp hơn bên ngoài. Khi trời lạnh, nhà lưới cũng giúp hạn chế biến động nhiệt độ, tạo môi trường ổn định hơn cho tôm.
Đây cũng là lý do ông Bảy lựa chọn nuôi tôm vào mùa nghịch. Theo ông, trong điều kiện thời tiết bất lợi, nếu nuôi theo cách truyền thống thì tỷ lệ hao hụt cao. Nhưng khi ao nuôi được che chắn, nhiệt độ nước ít biến động, tôm có điều kiện phát triển ổn định hơn.
Chi phí đầu tư nhà lưới cho một ao rộng 1.000m2 khoảng 50 triệu đồng, gồm hệ thống trụ, dây giăng và các hạng mục liên quan.
Nhà lưới không thể bảo vệ tôm tuyệt đối khỏi dịch bệnh. Tuy nhiên, ông Bảy cho rằng việc che chắn giúp hạn chế sự xâm nhập của một số tác nhân bên ngoài, trong đó có nguy cơ mầm bệnh lây lan qua chim, cò.
Không chỉ đầu tư nhà lưới, ông Bảy xây dựng quy trình nuôi khép kín nhằm kiểm soát môi trường và dịch bệnh ngay từ đầu.
Nước được đưa vào ao lắng, sau đó chuyển qua ao xử lý trước khi cấp cho ao nuôi thương phẩm. Tôm giống được lựa chọn từ nguồn cung bảo đảm chất lượng, sau đó đưa vào bể ương khoảng 20-30 ngày. Khi đạt kích cỡ tương đối đồng đều, tôm mới được chuyển sang ao nuôi.
Trong quá trình nuôi, chất thải được thu gom và xử lý thường xuyên nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường nước.
Quy trình nuôi được chia thành nhiều giai đoạn. Sau mỗi giai đoạn, tôm được chuyển sang ao phù hợp với kích cỡ và điều kiện sinh trưởng, qua đó hạn chế sốc môi trường nước.
Ngoài ra, mô hình nuôi không sử dụng kháng sinh, hướng tới sản phẩm sạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Tại khu nuôi, ông Bảy thường xuyên đi kiểm tra từng ao, quan sát sức ăn của tôm và đặc biệt chú ý màu nước. Từ kinh nghiệm tích lũy sau hàng chục năm gắn bó với nghề, chỉ cần nhìn màu nước, ông có thể nhận biết phần nào tình trạng sức khỏe của tôm.
Thu 40 tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng chục lao động
Hiệu quả của mô hình được thể hiện qua sản lượng và lợi nhuận. Năm 2019, ông Bảy thu hoạch khoảng 300 tấn tôm, đạt lợi nhuận gần 20 tỷ đồng. Năm 2020, sản lượng tăng lên khoảng 350 tấn, mang về khoảng 25 tỷ đồng.
Hiện ông Bảy vận hành 6 khu nuôi tôm công nghệ cao với tổng diện tích khoảng 45ha. Theo ông, mô hình này mang lại lợi nhuận khoảng 40 tỷ đồng mỗi năm.
Mô hình nuôi tôm của ông cũng đạt chứng nhận ASC và BAP, đáp ứng những yêu cầu về nuôi thủy sản có trách nhiệm, môi trường và chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, giá tôm cao hơn mặt bằng thị trường khoảng 5.000-8.000 đồng/kg. Sản phẩm chủ yếu phục vụ các thị trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản.
Theo ông Bảy, điều quan trọng nhất sau hàng chục năm gắn bó với nghề là không ngừng thay đổi cách làm.
Sau 25 năm gắn bó với nghề, ông Bảy được vinh danh là “Nông dân Việt Nam xuất sắc” và đạt danh hiệu Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp Trung ương.
Ngoài nuôi tôm, ông Bảy còn kinh doanh thức ăn, thuốc xử lý dịch bệnh và vật tư phục vụ nuôi trồng thủy sản, mang lại lợi nhuận 10 tỷ đồng mỗi năm.
Đáng chú ý, 6 khu nuôi tôm của ông đang tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 60 lao động, mức lương thấp nhất 10 triệu đồng/người/tháng, cao nhất có thể lên tới 16 triệu đồng/tháng.
Trao đổi với PV VietNamNet, ông Phạm Văn Hùng, Chủ tịch UBND xã Thạnh Phong, đánh giá mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Đặng Văn Bảy mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương.
Ông Hùng cho biết, thời gian tới, địa phương định hướng đầu tư, hoàn thiện hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho các mô hình nuôi tôm quy mô lớn và doanh nghiệp phát triển. Theo ông, khi giao thông được cải thiện, việc vận chuyển thức ăn, vật tư đầu vào và tôm thành phẩm sẽ thuận lợi hơn, góp phần giảm chi phí sản xuất cho người nuôi.