Bỏ qua điều hướng
•

Bốn năm, một tấm bằng và câu hỏi của phụ huynh

Bốn năm, một tấm bằng và câu hỏi của phụ huynh
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Sau bốn năm, điều phụ huynh mong đợi là con em mình có đủ năng lực bước vào nghề và tiếp tục phát triển. Vậy đại học có trách nhiệm với sinh viên đến đâu?

Tại Hội nghị Giáo dục đại học vào đầu tháng này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hoàng Minh Sơn bày tỏ trăn trở trước tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc cao ở một số trường, kể cả những trường lớn. Ông đặt câu hỏi liệu sinh viên có thực sự phải nỗ lực để đạt kết quả ấy, đồng thời yêu cầu các trường đo lường thời gian tự học, nghiên cứu và nâng tính thực chất của kiểm tra, đánh giá.

Ngày 16/10, Bộ GD&ĐT tiếp tục yêu cầu các trường rà soát việc đánh giá, xếp loại tốt nghiệp, không áp đặt tỷ lệ giỏi, xuất sắc hoặc hạ chuẩn để tăng thành tích. Những yêu cầu này không nhằm phủ nhận thành tích của sinh viên, mà đặt ra vấn đề về độ tin cậy của điểm số và chất lượng đào tạo.

Những năm gần đây, nhiều trường đại học đã tiến bộ về tự chủ, nghiên cứu và hợp tác quốc tế. Nhưng khi học phí ngày càng trở thành gánh nặng đối với không ít gia đình, còn giá trị thực của tấm bằng gây tranh luận, các bậc phụ huynh có quyền hỏi: Sau bốn năm và khoản tiền không nhỏ, con em mình học được gì, làm được gì, có cơ hội sống bằng nghề đã chọn hay không? Câu hỏi ấy buộc nhà trường phải nhìn lại trách nhiệm trong từng quyết định mở ngành, tuyển sinh, tổ chức đào tạo và cấp bằng, bởi hệ quả của những quyết định đó có thể theo người học nhiều năm sau tốt nghiệp.

Bốn năm, một tấm bằng và câu hỏi của phụ huynh - 1

Sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TPHCM (Ảnh: HUB).

Tiết kiệm trước khi tăng học phí

Đầu tư cho giảng viên, phòng thí nghiệm, thiết bị và học liệu rất tốn kém, nên tăng học phí đôi khi là cần thiết. Nhưng trước khi yêu cầu gia đình đóng thêm, trường đã rà soát bộ máy, thủ tục, các khoản chi và những dự án đầu tư dàn trải đến đâu? Tiết kiệm đúng chỗ sẽ dành thêm tiền cho giảng dạy, thay vì cắt giờ thực hành hay giảm điều kiện làm việc của giảng viên.

Việc sử dụng nguồn lực hợp lý còn bắt đầu từ thiết kế chương trình: bỏ nội dung trùng lặp, tích hợp các học phần có phần chung, khai thác học liệu số để giảm thời gian nghe giảng một chiều và tăng thời gian thực hành, thảo luận, hướng dẫn cá nhân. Những điều chỉnh ấy phải dựa trên chuẩn đầu ra và đặc thù môn học, tránh lấy danh nghĩa tinh gọn để giảm chất lượng.

Trách nhiệm trong từng công việc thường ngày

Trách nhiệm ấy hiện diện trong việc tiếp nhận và giải quyết khó khăn của sinh viên về học vụ, thủ tục hay tài chính, để các em không phải đi lại giữa nhiều phòng ban. Ký túc xá phải an toàn, chi phí phù hợp; các thỏa thuận hợp tác doanh nghiệp phải đem lại chỗ thực tập có công việc thật và người hướng dẫn thật. Hoạt động hướng nghiệp nên bắt đầu khi sinh viên còn đủ thời gian tìm hiểu ngành nghề và điều chỉnh kế hoạch học tập.

Những công việc này đòi hỏi sự phân định trách nhiệm rõ ràng, từ lãnh đạo trường trong bảo đảm nguồn lực, khoa và bộ môn trong xây dựng, tổ chức chương trình, giảng viên trong giảng dạy và đánh giá, đến bộ phận phục vụ trong giải quyết công việc cho sinh viên.

Sinh viên phải học tập nghiêm túc, chủ động, nhưng trách nhiệm của trường không vì thế mà chỉ dừng ở việc ban hành quy chế và xử lý vi phạm.

Những trường hợp sinh viên bị cảnh báo học vụ, buộc thôi học càng cho thấy nhà trường phải chủ động hơn. Một quyết định buộc thôi học có thể đúng quy định, nhưng trước đó trường đã phát hiện sớm nguy cơ, tìm hiểu nguyên nhân, tư vấn và tạo cơ hội để sinh viên khắc phục hay chưa?

Việc theo dõi thời gian tự học mà Bộ trưởng yêu cầu, nếu được làm nghiêm túc, chính là một công cụ như thế: Nó giúp trường nhận ra sớm những sinh viên đang rời xa việc học để can thiệp kịp thời, chứ không chỉ là một con số để báo cáo. Nếu tình trạng này kéo dài ở một ngành hoặc nhiều khóa, cần xem xét cả công tác tuyển sinh, chương trình, phương pháp giảng dạy và sự hỗ trợ dành cho người học.

Điểm số phải phản ánh đúng năng lực

Tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc cao ở một số trường mà Bộ trưởng nêu tại hội nghị đặt ra yêu cầu kiểm chứng chất lượng đánh giá. Tự thân những tỷ lệ ấy chưa phải bằng chứng của việc “thổi điểm”. Muốn biết điểm số có phản ánh đúng năng lực hay không, cần đối chiếu chuẩn đầu ra với đề thi, bài làm, đồ án, tiêu chí chấm, chất lượng đầu vào và cả phản hồi của nhà tuyển dụng.

Yêu cầu đo lường thời gian tự học cũng nên được hiểu theo tinh thần đó. Thời gian học không phải thước đo duy nhất của năng lực, và số giờ đăng nhập hệ thống học tập chỉ phản ánh một phần công sức sinh viên bỏ ra cho đọc sách, thực hành, làm việc nhóm hay nghiên cứu.

Nhưng khi một chương trình có tỷ lệ xuất sắc rất cao mà sinh viên chỉ dành ít giờ mỗi tuần cho tự học, nhà trường không thể không xem lại độ thách thức của đề thi, mức yêu cầu của chuẩn đầu ra và cách giảng viên chấm điểm. Giá trị của con số này nằm ở chỗ nó buộc trường phải giải thích bằng bằng chứng, thay vì bằng cảm tính.

Cho điểm vượt năng lực thực, dù vì nể nang hay áp lực thành tích, sẽ khiến sinh viên hiểu sai về trình độ của mình, bỏ lỡ cơ hội khắc phục những thiếu hụt và làm giảm lòng tin của nhà tuyển dụng vào văn bằng.

Trách nhiệm không dừng ở tấm bằng

Chất lượng đào tạo còn phải được kiểm chứng khi sinh viên bước vào thị trường lao động. Cũng như doanh nghiệp quan tâm đến chất lượng sản phẩm sau khi bán ra, trường đại học cần biết những người mình đào tạo làm được gì, gặp khó khăn ở đâu và thích nghi ra sao với công việc. Nhà trường không thể bảo đảm việc làm cho từng người, nhưng phải chịu trách nhiệm về những năng lực đã cam kết trang bị cho họ.

Nếu nhiều khóa liên tiếp khó tìm việc phù hợp hoặc nhà tuyển dụng thường xuyên phản ánh những thiếu hụt giống nhau, trường cần xem lại chương trình, phương pháp giảng dạy, đánh giá và cả quy mô tuyển sinh. Phản hồi từ doanh nghiệp, cựu sinh viên phải được sử dụng để cải tiến đào tạo, đồng thời mở thêm cơ hội cho người đã tốt nghiệp trở lại cập nhật kiến thức, kỹ năng, thay vì chỉ phục vụ những báo cáo tỷ lệ việc làm.

Sau bốn năm, điều phụ huynh mong đợi là con em mình có đủ năng lực bước vào nghề và tiếp tục phát triển. Vậy đại học có trách nhiệm với sinh viên đến đâu? Nhà trường không thể lo liệu tương lai thay cho từng người, nhưng phải chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo đã cam kết, kể cả việc nhìn nhận và khắc phục những hạn chế chỉ bộc lộ sau ngày trao bằng.

Tác giả: TS Hoàng Ngọc Vinh từng giữ chức Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo; tham gia Tổ Tư vấn của Ủy ban Quốc gia Đổi mới Giáo dục và Đào tạo, nhiệm kỳ 2016–2021.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!

Tại Hội nghị Giáo dục đại học vừa qua, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn đã bày tỏ quan ngại trước tỷ lệ tốt nghiệp xuất sắc tăng cao bất thường tại một số cơ sở đào tạo. Ngay sau đó, ngày 16/10, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các trường khẩn trương rà soát lại quy trình đánh giá chuẩn đầu ra, nghiêm cấm việc hạ chuẩn hoặc ấn định chỉ tiêu giỏi nhằm tô hồng thành tích. Động thái chỉ đạo này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tính thực chất của điểm số cũng như giá trị thực tế của mỗi tấm bằng đại học. Trong bối cảnh học phí trở thành gánh nặng kinh tế lớn đối với nhiều gia đình, xã hội đòi hỏi nhà trường phải tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình. Trước khi tính đến phương án tăng học phí, các trường cần tối ưu bộ máy quản lý, rà soát những khoản chi dàn trải để tập trung nguồn lực phục vụ giảng dạy. Việc tinh gọn chương trình qua loại bỏ nội dung trùng lặp và tăng cường giờ thực hành cần được tiến hành dựa trên chuẩn đầu ra thực chất, tránh việc cắt xén cơ học làm suy giảm chất lượng đào tạo. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học còn phải được cụ thể hóa thông qua sự hỗ trợ toàn diện và thực chất đối với người học trong suốt quá trình đào tạo. Mọi khâu từ ký túc xá, thủ tục học vụ, hướng nghiệp sớm cho đến các chương trình thực tập doanh nghiệp đều cần mang lại giá trị công việc và trải nghiệm thực tế. Tấm bằng tốt nghiệp chỉ thực sự trọn vẹn ý nghĩa khi sinh viên có đủ năng lực hành nghề, khẳng định được bản thân và tự chủ nuôi sống chính mình sau bốn năm miệt mài học tập.
amung