Các phần tử khủng bố IS (Ảnh: New York Post).
Theo một nghiên cứu của Đại học Cambridge (Anh), các tay súng khủng bố Boko Haram đang sử dụng chatbot AI của những công ty công nghệ lớn để hỗ trợ chế tạo bom mạnh hơn, lên kế hoạch tấn công và giải quyết các vấn đề trong quá trình chiến đấu.
Các nhà nghiên cứu đã phỏng vấn 27 cựu thành viên của 2 nhánh Boko Haram gồm IS ở Tây Phi (ISWAP), và Jama’at Ahl as-Sunnah lid-Da’wah wa’l-Jihad (JAS).
Một số người cho biết họ thường xuyên sử dụng các chatbot AI nổi tiếng như ChatGPT, Claude, Gemini, Grok… như một nguồn tư vấn kỹ thuật và quân sự trước, trong và sau các cuộc tấn công.
Trong khi đó, những tài liệu mà Al Jazeera thu thập được cho thấy những phần tử ủng hộ IS đang chia sẻ hướng dẫn về cách vượt qua các biện pháp kiểm soát an toàn của AI và tiếp cận thông tin liên quan đến vũ khí.
Những phát hiện trên được đưa ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều lo ngại về việc IS áp dụng các công nghệ mới nổi. Hồi tháng 2, các quan chức Liên hợp quốc cảnh báo Hội đồng Bảo an về việc IS và các nhóm liên kết gia tăng sử dụng AI tiên tiến.
Cùng lúc đó, các nhà nghiên cứu và một số nhân vật nổi bật nhất trong ngành công nghệ cảnh báo rằng các hệ thống AI ngày càng mạnh đang phát triển nhanh hơn các biện pháp bảo đảm an toàn, làm dấy lên lo ngại rằng những bước tiến không được kiểm soát trong AI đang khiến các nhóm vũ trang dễ khai thác công nghệ này hơn.
“Không có gì mà chúng tôi hỏi lại không nhận được câu trả lời”, một cựu chỉ huy ISWAP nói với các nhà nghiên cứu.
Theo nghiên cứu, cả ISWAP và JAS đều thành lập các đơn vị AI chuyên trách, với sự tham gia của những người có kiến thức chuyên môn về hoạt động, trong đó có kỹ sư, chuyên gia vũ khí và người chế tạo bom.
“Hỏi xem làm thế nào để chế tạo bom rồi nó sẽ nói cho bạn biết. Nó giống như là robot con người. Chúng tôi sử dụng nó rất nhiều”, một cựu chỉ huy Boko Haram giải thích.
Antonia Juelich, tác giả nghiên cứu của Cambridge, nói với Al Jazeera rằng khoảng 10 trong số 27 người được phỏng vấn đề cập đến việc sử dụng AI liên quan đến chất nổ, trong đó có những nỗ lực nhằm làm bom mạnh hơn và thu hồi vật liệu nổ từ các loại vũ khí quân sự.
Tuy nhiên, điều khiến bà Juelich lo ngại nhất không đơn thuần là việc các tay súng có thể tiếp cận thông tin về vũ khí vì phần lớn thông tin này vốn đã có từ lâu trong các tài liệu hướng dẫn và trên mạng. Thay vào đó, AI có thể phản hồi trực tiếp trước vấn đề cụ thể mà họ đang gặp phải khi chế tạo bom.
Điều này giúp họ có một thứ gần giống với chuyên gia kỹ thuật luôn sẵn sàng 24 giờ mỗi ngày, có thể điều chỉnh câu trả lời theo vật liệu họ có và loại bom họ đang tìm cách chế tạo.
AI cũng được cho là đã được sử dụng để cải biến các UAV thương mại nhằm mang và thả chất nổ xuống mục tiêu.
Những lời kể về chế tạo bom chỉ là một phần của câu chuyện, khi các cựu tay súng cho biết AI đã được sử dụng trong gần như mọi giai đoạn chiến đấu để tư vấn chiến thuật.
AI cũng được tham vấn khi các tay súng gặp những loại vũ khí chưa quen thuộc. Sau khi kết thúc giao tranh, các phần tử tiếp tục dùng AI để phân tích tình huống, tìm ra nguyên nhân thất bại, bài học cho cuộc tấn công tiếp theo.
Mặt khác, Lucas Webber của tổ chức Tech Against Terrorism cho biết các nhà nghiên cứu đang chứng kiến ngày càng nhiều cuộc thảo luận về cách qua mặt các biện pháp bảo vệ trên các hệ thống AI, tức là cơ chế ngăn chặn AI bị tận dụng cho mục đích không tốt.
Bà Juelich thừa nhận việc quản lý AI rất khó khăn khi nhiều câu hỏi có thể phục vụ những mục đích hợp pháp, ví dụ như câu hỏi về chiến thuật quân sự. Tuy nhiên, bà cho rằng những yêu cầu trợ giúp chế tạo bom rõ ràng nằm ngoài quy định của các công ty và đáng lẽ phải bị các hàng rào an toàn ngăn chặn.
Các công ty AI lớn cho biết họ có những biện pháp bảo vệ nhằm ngăn chặn việc sử dụng công nghệ vào mục đích sai trái như vậy, nhưng các phần tử khủng bố dường như vẫn tìm cách vượt qua.
Các cuộc phỏng vấn của Cambridge chủ yếu mô tả việc sử dụng AI trong năm 2023 và 2024. Bà Juelich cho rằng điều này khiến các phát hiện trở nên đáng lo ngại hơn, xét đến tốc độ phát triển rất nhanh của công nghệ kể từ đó.
“Tôi lo ngại về việc mọi chuyện sẽ đi đến đâu”, bà thừa nhận.