Bỏ qua điều hướng

CEO Techcombank: Việt Nam cần 1.100 tỷ USD vốn để tăng trưởng 10%

CEO Techcombank: Việt Nam cần 1.100 tỷ USD vốn để tăng trưởng 10%
Nguồn ảnh: VnExpress

Theo CEO Techcombank Jens Lottner, muốn tăng trưởng GDP 10%, Việt Nam cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn trong 5 năm tới, đồng thời cần phát triển thêm các kênh huy động vốn dài hạn.

Chia sẻ tại Hội nghị Đầu tư Techcombank 2026, tổ chức ngày 19/9, ông Jens Lottner cho rằng Việt Nam đang đứng trước một chu kỳ tăng trưởng mới. Nếu nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng GDP 10%, quy mô GDP và thu nhập bình quân đầu người có thể thay đổi đáng kể.

Theo ông, nhiều tổ chức đầu tư quốc tế dự báo tăng trưởng của Việt Nam đạt khoảng 6-7%. Nếu tăng trưởng đạt 10%, GDP bình quân đầu người có thể tăng nhanh từ khoảng 6.000 USD lên 8.000 USD.

CEO Techcombank cho rằng Việt Nam đang có những nền tảng thuận lợi hơn cho kịch bản tăng trưởng cao. Quá trình số hóa, hội nhập quốc tế, cải cách pháp luật, tinh gọn bộ máy và thúc đẩy khu vực tư nhân đang được đẩy nhanh. Cùng với đó, xuất khẩu, FDI, đầu tư công và tiêu dùng nội địa vẫn duy trì tích cực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động.

CEO Techcombank Jens Lottner chia sẻ tham luận mở đầu cho Hội nghị Đầu tư sáng 19/9. Ảnh: Tùng Đinh

CEO Techcombank Jens Lottner chia sẻ tham luận mở đầu cho Hội nghị Đầu tư sáng 19/9. Ảnh: Tùng Đinh

Tuy nhiên, để chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng cao hơn, huy động vốn sẽ là một trong những điều kiện then chốt. Theo tính toán được ông Lottner đưa ra, tổng nhu cầu hình thành vốn có thể đạt khoảng 1.100 tỷ USD. Riêng đầu tư nâng cấp hạ tầng và chuyển dịch mô hình kinh tế sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn, gắn với mục tiêu Net Zero vào năm 2050, cần khoảng 500 tỷ USD trong 5 năm tới. Ngoài ra, nhu cầu vốn còn đến từ kinh tế số, trung tâm dữ liệu, bất động sản và đô thị hóa.

"Có một điều rất rõ ràng: chúng ta không thể bước vào quỹ đạo tăng trưởng này nếu không huy động được lượng vốn lớn hơn rất nhiều so với hiện nay", ông nói.

Không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng

Tại phiên thảo luận "Tăng trưởng nhưng không đánh đổi bảng cân đối" trong khuôn khổ hội nghị, các diễn giả đặt ra bài toán: với nhu cầu vốn rất lớn cho tăng trưởng và hạ tầng, Việt Nam sẽ huy động nguồn lực từ đâu và phân bổ thế nào để không tạo áp lực quá lớn lên hệ thống ngân hàng?

Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước, cho rằng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại chủ yếu có kỳ hạn ngắn, trong khi các dự án hạ tầng cần quy mô vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài.

"Tín dụng ngân hàng có thể là một trụ cột, nhưng không thể và không nên là nguồn cung ứng duy nhất", ông Bắc nói. Theo ông, nguồn lực cần được huy động từ nhiều kênh, gồm ngân sách, tín dụng, ODA, vốn ưu đãi từ các tổ chức tài chính quốc tế và nhà đầu tư trong, ngoài nước.

Các chuyên gia chia sẻ tại phiên thảo luận Tăng trưởng nhưng không đánh đổi bảng cân đối. Ảnh: Tùng Đinh

Các chuyên gia chia sẻ tại phiên thảo luận "Tăng trưởng nhưng không đánh đổi bảng cân đối". Ảnh: Tùng Đinh

Ông Nguyễn Anh Dũng, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Xây dựng, cũng cho rằng nhu cầu đầu tư giai đoạn tới vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn vốn Nhà nước.

Theo ông, các dự án hạ tầng chiến lược, có tính lan tỏa nhưng khả năng thu hồi vốn thấp sẽ cần Nhà nước đầu tư, kết hợp ODA và vốn vay ưu đãi. Trong khi đó, những dự án có khả năng khai thác dịch vụ và tạo dòng tiền tốt hơn có thể mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân. Song, điều quan trọng là tạo được hiệu quả tài chính đủ hấp dẫn để nhà đầu tư tư nhân tham gia và các tổ chức tín dụng có cơ sở cấp vốn.

Từ góc nhìn quốc tế, bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp khu vực tài chính của Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng bài toán không chỉ nằm ở huy động thêm tiền mà còn ở cách phân bổ nguồn vốn.

Theo bà, những dự án có tác động xã hội lớn nhưng khả năng hoàn vốn thấp vẫn cần dựa vào vốn công. Các dự án có dòng tiền đủ hấp dẫn có thể huy động vốn tư nhân. Với nhóm ở giữa - có tiềm năng nhưng chưa đủ khả năng vay thương mại - một phần vốn công hoặc vốn ưu đãi có thể đóng vai trò "vốn mồi", giúp giảm rủi ro và thu hút thêm dòng tiền tư nhân.

Bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp khu vực tài chính của Ngân hàng Thế giới (WB) chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: Tùng Đinh

Bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp khu vực tài chính của Ngân hàng Thế giới (WB) chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: Tùng Đinh

Cần thêm công cụ huy động vốn dài hạn

Theo ông Lottner, ngoài tín dụng và trái phiếu truyền thống, Việt Nam cần phát triển thêm những công cụ phù hợp với các khoản đầu tư kéo dài 10-15 năm. "Chúng ta cần nhiều vốn cổ phần hơn, cần có các đợt IPO để doanh nghiệp huy động vốn chủ sở hữu, đồng thời cần trái phiếu hạ tầng kỳ hạn dài và các giải pháp tài chính cấu trúc", người đứng đầu Techcombank nói.

Một hướng khác là chứng khoán hóa các tài sản đang tạo dòng tiền ổn định thông qua quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REITs) hoặc chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (ABS), từ đó huy động vốn để tái đầu tư vào các dự án mới.

Ông Lottner cũng nhấn mạnh vai trò của các Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP HCM và Đà Nẵng. Theo ông, đây có thể trở thành những "phễu dẫn vốn", kết nối nguồn tiền quốc tế với nhu cầu đầu tư trong nước, đặc biệt với các dự án quy mô lớn và cần cấu trúc tài chính phức tạp.

World Bank cho rằng nguồn vốn dài hạn còn có thể đến từ các nhà đầu tư tổ chức như doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư. Nhóm này phù hợp hơn với vòng đời dài của các dự án hạ tầng, đồng thời giúp giảm áp lực lên bảng cân đối của ngân hàng thương mại.

Bà Zing Chao, chuyên gia của WB cũng cho rằng các nhà đầu tư tổ chức như doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư có thể trở thành nguồn vốn dài hạn quan trọng, qua đó giảm bớt áp lực lên bảng cân đối của các ngân hàng thương mại.

Ở góc độ ngân hàng thương mại, bà Nguyễn Thu Lan, Phó chủ tịch HĐQT Techcombank, cho rằng nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng trong 5 năm tới rất lớn, trong khi mỗi dự án có đặc điểm khác nhau về thời gian hoàn vốn, dòng tiền và mức độ rủi ro.

"Không phải một nguồn vốn hay một tổ chức nào có thể gánh vác được hết, dù ở quy mô tổng thể hay từng dự án", bà Lan nói.

Bà Nguyễn Thu Lan, Phó chủ tịch HĐQT Techcombank chia sẻ về định hướng phát triển của ngân hàng. Ảnh: Tùng Đinh

Bà Nguyễn Thu Lan, Phó chủ tịch HĐQT Techcombank chia sẻ về định hướng phát triển của ngân hàng. Ảnh: Tùng Đinh

Lãnh đạo Techcombank cho biết, để đáp ứng nhu cầu này cần kết hợp nhiều nguồn vốn, hình thức tài trợ và đối tác khác nhau, đồng thời tính toán phù hợp kỳ hạn của từng nguồn tiền. Hiện, Techcombank đang chuẩn bị để trở thành nhà thu xếp vốn, kết nối các nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu của các dự án hạ tầng với thời hạn và chi phí phù hợp.

Với một số dự án tư nhân có chu kỳ thu hồi vốn dài, ngân hàng đã bắt đầu cấu trúc giải pháp tài chính theo từng chặng. Giai đoạn đầu sử dụng vốn ngắn và trung hạn để triển khai dự án, sau đó từng bước thu xếp nguồn vốn dài hạn hơn, trong đó có vốn quốc tế.

"Chúng tôi sẽ có khoảng thời gian từ 2 đến 3 năm để chuẩn bị cho việc thu xếp nguồn vốn dài hạn này", bà Lan cho biết.

Theo bà, quá trình này cần sự phối hợp của cơ quan quản lý trong tháo gỡ các vướng mắc về cấu trúc, cùng sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế như World Bank, IFC. Techcombank kỳ vọng kết hợp kinh nghiệm quốc tế về thị trường vốn với hiểu biết thị trường trong nước, năng lực quản trị và kiểm soát dòng tiền để kết nối nhu cầu của dự án với các định chế tài chính.

Với các dự án đầu tư công, Techcombank cũng định hướng tham gia với vai trò thu xếp vốn và tư vấn tài chính, kết nối các ngân hàng trong và ngoài nước, đồng thời hỗ trợ huy động nguồn lực dài hạn qua trái phiếu chính quyền địa phương hoặc trái phiếu Chính phủ.

Bên cạnh việc mở rộng các kênh huy động, các diễn giả cho rằng khả năng thu hút vốn còn phụ thuộc vào tính khả thi của từng dự án.

Ông Bắc cho rằng các dự án hạ tầng thường có lợi nhuận tài chính trực tiếp không cao nhưng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội lớn, từ giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển đến tăng giá trị đất đai.

"Bài toán đặt ra là làm thế nào để chia sẻ được phần giá trị gia tăng mà dự án đem lại cho xã hội, đưa một phần lợi ích đó trở lại dự án nhằm khuyến khích nhà đầu tư", ông nói.

Chuyên gia World Bank cũng cho rằng các giải pháp tài chính cần đi cùng hoàn thiện khung pháp lý PPP, chuẩn hóa hợp đồng và cơ chế chia sẻ rủi ro. Đây là điều kiện để nguồn vốn tư nhân và quốc tế có thể tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng tại Việt Nam.

Minh Đăng

Tại Hội nghị Đầu tư Techcombank 2026 diễn ra ngày 19/9, Tổng giám đốc Jens Lottner nhận định Việt Nam đang đứng trước cơ hội bước vào chu kỳ tăng trưởng mới với mục tiêu GDP 10% mỗi năm. Kịch bản bứt phá này có thể thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh từ 6.000 USD lên 8.000 USD nhờ nền tảng số hóa, hội nhập quốc tế và cải cách bộ máy. Tuy nhiên, bài toán then chốt đặt ra là nhu cầu hình thành vốn khổng lồ lên tới 1.100 tỷ USD trong 5 năm tới. Để đáp ứng khối tài chính này, nền kinh tế cần khoảng 500 tỷ USD riêng cho nâng cấp hạ tầng, chuyển đổi mô hình gắn với mục tiêu Net Zero 2050, bên cạnh các lĩnh vực đô thị hóa và kinh tế số. Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), nhấn mạnh hệ thống ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn nên không thể là nguồn cung ứng duy nhất cho các dự án hạ tầng dài hạn. Do đó, việc phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng sẽ tạo áp lực rủi ro lớn cho bảng cân đối tài chính quốc gia. Đồng quan điểm, đại diện Bộ Xây dựng, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính Nguyễn Anh Dũng cho rằng nguồn vốn nhà nước không thể bao phủ toàn bộ nhu cầu đầu tư giai đoạn mới. Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực và vốn ODA vào các hạ tầng chiến lược có tính lan tỏa nhưng hoàn vốn chậm. Đối với những dự án tạo dòng tiền tốt, cơ quan quản lý cần cơ chế tài chính đủ hấp dẫn để thu hút mạnh mẽ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế cùng tham gia.