Người cho rằng đất thừa kế, bên khẳng định đã được tặng cho
Theo trình bày của bà S. (ngụ TPHCM), cha mẹ bà là cụ Trần Văn C. và cụ Phạm Thị M. lần lượt qua đời vào năm 1996 và 1992, đều không để lại di chúc. Hai cụ có hai người con là bà S. và ông S1. (đã qua đời năm 2016). Phần đất tranh chấp nằm ở ngoại thành TPHCM, có diện tích ban đầu khoảng 20.000m2, do cụ C. nhận chuyển nhượng từ người khác vào năm 1965.
Bà S. cho biết năm 1995, ông S1. đã chuyển nhượng đất cho ông T. và bà H., mỗi người 10.000m2, khi chưa có sự đồng ý của cụ C. Sau đó, bà H. tiếp tục chuyển nhượng đất cho người khác.
Cho rằng thửa đất vẫn là di sản do cha mẹ để lại và chưa được giải quyết trong vụ án chia thừa kế trước đây, bà S. khởi kiện, yêu cầu những người thừa kế của ông S1. thanh toán phần giá trị di sản mà bà được hưởng. Ban đầu, số tiền yêu cầu được tạm tính là 30 tỷ đồng.
Ngược lại, những người thừa kế của ông S1. cho rằng cụ C. đã tặng cho ông thửa đất vào năm 1995. Sau đó, ông S1. thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất và chuyển nhượng cho người khác.
Bà D., một người nhận chuyển nhượng đất, cho biết năm 1996, bà nhận chuyển nhượng 10.000m2 đất từ bà H. Sau khi Nhà nước thu hồi một phần đất để làm đường, bà tiếp tục chuyển nhượng một phần diện tích. Hiện bà quản lý, sử dụng 6.400m2. Bà đề nghị xem xét thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và cho rằng mình là người mua ngay tình.
Con trai ông T. cho biết gia đình vẫn quản lý, sử dụng 10.000m2 đất do cha nhận chuyển nhượng, nhưng không yêu cầu giải quyết quyền lợi trong vụ án.
Chênh lệch diện tích đất, chưa rõ căn cứ chia di sản
Xét xử sơ thẩm, TAND Khu vực 8 - TPHCM chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S., xác định diện tích đất đo đạc thực tế là 18.521,4m2 và thuộc di sản thừa kế của cụ C. Tòa buộc 8 người thừa kế của ông S1. thanh toán cho bà S. hơn 35,19 tỷ đồng, tương ứng với phần giá trị di sản mà ông S1. để lại và họ được hưởng.
Không đồng ý với phán quyết, 8 người thừa kế của ông S1. kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND TPHCM nhận định hồ sơ còn nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm rõ.
Theo tài liệu do cơ quan đăng ký đất đai cung cấp, ông S1. từng kê khai sử dụng diện tích đất 20.639m2. Tuy nhiên, hồ sơ chưa xác định rõ các thửa đất đang tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hay mới chỉ được kê khai. Việc cấp sổ đỏ cho ông S1. và tính hợp pháp của thủ tục này cũng cần được xem xét.
Đáng chú ý, hồ sơ thể hiện sổ đỏ cấp cho ông S1. năm 1995 có diện tích 10.720m2. Phần đất này đã được giải quyết qua nhiều bản án, quyết định trước đó, trong đó có quyết định giám đốc thẩm.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa đưa cơ quan nhà nước có liên quan tham gia tố tụng để làm rõ tính hợp pháp của việc cấp sổ đỏ, đồng thời chưa xác định đầy đủ tình trạng pháp lý của các thửa đất sau những lần giải quyết trước.
Hội đồng xét xử cũng nhận định diện tích đất có sự chênh lệch đáng kể giữa diện tích ban đầu khoảng 20.000m2, diện tích kê khai 20.639m2 và diện tích đo đạc thực tế 18.521,4m2. Vì vậy, cần xác định phần đất thuộc di sản, phần đã chuyển nhượng cho người khác và diện tích thực tế còn lại có thể đưa vào phân chia thừa kế.
Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm chưa xác định đầy đủ những người có công quản lý, gìn giữ di sản để xem xét công sức đóng góp. Tòa sơ thẩm lấy diện tích 18.521,4m2 nhân với đơn giá 3,8 triệu đồng/m2, xác định tổng giá trị hơn 70,38 tỷ đồng, nhưng chưa làm rõ căn cứ phân chia di sản và nghĩa vụ thanh toán trong mối liên hệ với quyền lợi của các bên liên quan.
Từ những thiếu sót trên, TAND TPHCM chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho TAND Khu vực 8 xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
(Tham khảo Bản án số 1432/2026/DS-PT ngày 28/7/2026 của TAND TPHCM)