Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký ban hành Quyết định số 1810/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Một trong những định hướng lớn của chiến lược là đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.
90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng
Theo chiến lược, giáo dục đại học sẽ chuyển từ phát triển chủ yếu theo quy mô sang phát triển theo chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.
Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ.
Đáng chú ý, chiến lược đặt mục tiêu 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng.
Điều này kéo theo yêu cầu thay đổi từ khâu tuyển sinh đến đào tạo. Theo định hướng mới, tuyển sinh không còn chỉ là “tuyển đủ”, mà phải tuyển đúng, tuyển người học phù hợp và bảo đảm chất lượng. Chỉ tiêu tuyển sinh phải căn cứ vào chất lượng nguồn tuyển, đội ngũ, cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực và khả năng có việc làm sau tốt nghiệp.
Trong đào tạo, các trường được định hướng chuyển từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần”.
Dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm, thu nhập và phản hồi của doanh nghiệp sẽ trở thành căn cứ để mở ngành, điều chỉnh chương trình và xác định quy mô đào tạo.
Các ngành không bảo đảm chất lượng hoặc nhu cầu thấp sẽ được rà soát. Ngược lại, các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và ngành thiết yếu được hỗ trợ bằng học bổng, đặt hàng và giao nhiệm vụ.
Thông tin về chất lượng chương trình, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp phải được công khai, kiểm chứng để người học có căn cứ khi lựa chọn.
Sinh viên Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TPHCM) thảo luận ở thư viện (Ảnh minh họa: Nguyễn Loan).
Đầu tư trọng điểm
Một thay đổi khác được đặt ra trong chiến lược này là phương thức đầu tư. Khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm được định hướng lựa chọn, trong đó phát triển 3-5 cơ sở thành đại học tinh hoa; ưu tiên các ngành then chốt, công nghệ chiến lược và nhiệm vụ phát triển quốc gia.
Đến năm 2035, chiến lược đặt mục tiêu phát triển 20-25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế, với nòng cốt là các phòng thí nghiệm trọng điểm, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ lớn và đại học uy tín trên thế giới.
Một định hướng quan trọng khác là phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung. Các thiết bị giá trị lớn, phòng thí nghiệm chuyên sâu, trung tâm tính toán hiệu năng cao và dữ liệu khoa học sẽ được tổ chức để nhiều trường, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp cùng khai thác.
Đến năm 2035, chiến lược đặt mục tiêu thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại Việt Nam.
Một điểm đáng chú ý khác là giáo dục đại học sẽ được theo dõi bằng một bộ chỉ số cốt lõi về chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.
Bộ chỉ số tập trung vào 5 nhóm: chất lượng đào tạo và việc làm của người học; năng lực đội ngũ; kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực; mức độ đóng góp cho xã hội, ngành, vùng và đất nước.
Theo chiến lược, các trường không được đánh giá bằng một khuôn giống nhau. Trường định hướng nghiên cứu phải chứng minh năng lực nghiên cứu và chuyển giao. Trong khi đó, trường định hướng ứng dụng phải chứng minh chất lượng thực hành, quan hệ với doanh nghiệp và việc làm của người học.
Theo số liệu trong chiến lược, năm 2025, các cơ sở giáo dục đại học có 21.014 công bố thuộc cơ sở dữ liệu Scopus, chiếm 83,61% tổng số công bố của cả nước. Sáu tháng đầu năm 2026, tỷ trọng này đạt 84,99%.
Tuy nhiên, bộ chỉ số trong giai đoạn tới sẽ không chỉ đếm bài báo khoa học mà còn hướng tới sáng chế, chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn và tác động thực tế của nghiên cứu.