Tại phiên thảo luận kinh tế - xã hội của Quốc hội ngày 30/10, đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai đề nghị, nghiên cứu thí điểm chứng chỉ vàng. Đề xuất được đưa ra trong bối cảnh tín dụng ngân hàng chịu sức ép đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn, lượng tài sản đáng kể của người dân vẫn nằm dưới dạng vàng.
Người dân cần biết mình đang gửi hay cho vay vàng
Theo một số ước tính, người dân đang nắm giữ khoảng 500 tấn vàng, tương đương gần 12% GDP. Đây là nguồn lực từng được nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị nghiên cứu giải pháp huy động phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Chuyên gia độc lập Dương Hồng Hà cho rằng, chứng chỉ vàng có thể giảm bất tiện trong bảo quản, giao dịch và được sử dụng làm tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, mức độ an toàn phụ thuộc vào cơ chế vận hành. Cần xác định vàng của người tham gia được lưu ký tách biệt hay họ chỉ có quyền yêu cầu tổ chức phát hành hoàn trả lượng vàng tương ứng. Quyền sở hữu và trách nhiệm bồi hoàn khi tổ chức phát hành mất khả năng thanh toán phải được quy định rõ trong hợp đồng.
Đồng tình với việc nghiên cứu thí điểm, TS Lê Bá Chí Nhân cho rằng, không thể coi toàn bộ số vàng này là nguồn vốn sẵn sàng đầu tư. Người dân còn nắm giữ vàng để bảo toàn tài sản, phòng ngừa lạm phát và ứng phó với bất ổn kinh tế. Chính sách phải đủ tin cậy để người dân tự nguyện tham gia.
Theo mô hình được đề xuất, người dân gửi vàng tại tổ chức được cấp phép và nhận chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền yêu cầu hoàn trả lượng vàng tương ứng. Tùy cơ chế, một phần vàng có thể được chuyển thành nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đầu tư hạ tầng. Tuy nhiên, cần phân biệt mô hình này với việc Nhà nước vay vàng. Đồng thời, phải bảo đảm quyền sở hữu, khả năng quy đổi, thanh khoản và kiểm soát việc sử dụng vàng, tránh biến chứng chỉ thành công cụ đầu cơ hoặc kinh doanh chênh lệch giá.
Ông Nhân lưu ý, nguy cơ tổ chức phát hành chứng chỉ mất khả năng chi trả nếu nhiều người đồng loạt yêu cầu rút vàng khi giá biến động. Bên cạnh rủi ro từ giá vàng quốc tế và chênh lệch giá trong nước, cơ chế thí điểm phải làm rõ chi phí lưu ký, biện pháp phòng ngừa thất thoát và trách nhiệm bồi hoàn của tổ chức phát hành.
Phân tích cụ thể hơn, TS Nguyễn Trung Kiên, chuyên gia kinh tế, đưa ra thí dụ: Một tổ chức nhận 10 lượng vàng, bán với giá 100 triệu đồng mỗi lượng và thu về 1 tỷ đồng. Nếu sử dụng số tiền này để cho vay với lãi suất 8%/năm, đến hạn tổ chức thu được 1,08 tỷ đồng cả gốc lẫn lãi. Tuy nhiên, nếu giá vàng tăng lên 120 triệu đồng mỗi lượng, số tiền này vẫn thiếu 120 triệu đồng để mua lại 10 lượng vàng, chưa kể các chi phí khác.
Nếu ấn định số tiền hoàn trả ngay từ thời điểm nhận vàng, tổ chức phát hành có thể hạn chế rủi ro biến động giá. Nhưng khi đó, người gửi lại đối mặt nguy cơ không mua được đủ lượng vàng ban đầu. Ngay cả khi hoàn trả theo giá vàng tại thời điểm đáo hạn, hợp đồng vẫn phải quy định rõ loại vàng tham chiếu, thời điểm chốt giá và giá mua vào hay bán ra.
Một rủi ro khác là mất cân đối kỳ hạn. Nếu nguồn tiền thu từ bán vàng được đầu tư dài hạn nhưng người gửi có quyền rút trước hạn, tổ chức phát hành có thể không thu hồi vốn kịp. Điều này có thể xảy ra ngay cả khi các dự án đầu tư có triển vọng sinh lời. Do đó, phương án huy động phải đi kèm nguồn lực hoàn trả, bảo đảm thực hiện đầy đủ cam kết với người gửi ở từng thời điểm.
Kiểm soát chặt chẽ rủi ro từ khâu thiết kế
Để kiểm soát những rủi ro trên, TS Nguyễn Trung Kiên cho rằng, chương trình thí điểm cần quy định việc kiểm toán vàng vật chất, công khai tài sản bảo đảm, bảo hiểm lưu ký và quyền quy đổi. Nguồn vốn hình thành từ vàng huy động phải được sử dụng cho các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, đồng thời có cơ chế ngăn dòng vốn chảy vào hoạt động đầu cơ tài sản.
Việt Nam từng triển khai huy động và cho vay bằng vàng trước khi thực hiện lộ trình chấm dứt hoạt động này nhằm hạn chế rủi ro và tình trạng vàng hóa nền kinh tế. Kinh nghiệm đó cho thấy, mọi phương án huy động đều phải gắn với khả năng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả. Với mô hình mới, cơ chế thu hẹp quy mô, kết thúc chương trình và xử lý trường hợp tổ chức phát hành mất khả năng chi trả cần được xác lập ngay từ đầu.
Đối với người tham gia, quyền lợi còn phụ thuộc vào những điều khoản tưởng như kỹ thuật nhưng có ý nghĩa trực tiếp khi quy đổi. Đó là loại vàng được tiếp nhận, yêu cầu về thương hiệu, độ tinh khiết... Tất cả phải được công bố trước để người gửi tính toán đầy đủ chi phí.
Quyền chuyển nhượng chứng chỉ chỉ có giá trị thực tế khi tồn tại bên mua, địa điểm giao dịch và cơ chế xác định giá minh bạch. Nếu người nắm giữ chỉ có thể bán lại cho tổ chức phát hành khi cần tiền trước hạn, họ vẫn không thể hoàn toàn chủ động.
Việc lựa chọn mô hình vì vậy phải xuất phát từ mục tiêu huy động. Nếu ưu tiên bảo quản và giao dịch thuận tiện, có thể nghiên cứu cơ chế lưu ký với lượng vàng được bảo đảm đầy đủ. Nếu hướng tới đưa vàng vào phục vụ sản xuất, kinh doanh, đề án phải làm rõ phương thức sử dụng vàng, nguồn bù đắp tổn thất và trách nhiệm của từng bên.
Về phương thức huy động, chuyên gia kinh tế TS Nguyễn Trí Hiếu đề xuất, thiết kế chứng chỉ vàng với các kỳ hạn linh hoạt, từ 3 đến 6 tháng hoặc từ 1 đến 5 năm, tham khảo mô hình tại Ấn Độ. Theo ông, người gửi có thể được hưởng lãi suất thấp hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng. Đồng thời, cần có cơ chế chuyển đổi chứng chỉ thành tiền mặt khi phát sinh nhu cầu.
Đề xuất này hướng tới đưa vàng tích trữ vào phục vụ sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và hạn chế tình trạng vàng hóa. Để tạo thuận lợi cho người dân, ông Hiếu đề nghị tận dụng mạng lưới ngân hàng thương mại làm kênh phân phối chứng chỉ, dưới sự bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước.
Chứng chỉ vàng có thể mở thêm kênh huy động nguồn lực trong dân, nhưng sức hấp dẫn không nằm ở lời hứa về một công cụ đầu tư mới. Điều quyết định là khả năng thực hiện những cam kết với người gửi. Người dân chỉ có cơ sở giao vàng khi biết rõ, trong cả điều kiện bình thường lẫn lúc thị trường biến động, họ sẽ nhận lại tài sản bằng cách nào, trong thời hạn bao lâu và ai chịu trách nhiệm nếu cam kết không được thực hiện.
Tùy anh