- Đã hơn nửa thế kỷ gắn bó với điền kinh, ông nhận thấy, công nghệ được áp dụng vào công tác huấn luyện bộ môn này như thế nào?
- Ở ta, quá trình này rất chậm. Ngay từ thời Giáo sư Dương Nghiệp Chí còn làm Viện trưởng Viện Khoa học Thể dục Thể thao, phòng nghiên cứu khoa học của viện đã bắt đầu đưa các tiêu chuẩn vào huấn luyện, nhưng mới là bước sơ khai: Huấn luyện viên phải có một cuốn sổ ghi chép ngày giờ, khối lượng buổi tập. Sau này, chúng ta dùng máy tính thay cho viết tay, nhưng bản chất vẫn chỉ là lưu trữ, thống kê, tích hợp. Còn nhiệm vụ cốt lõi của nhà khoa học, tức là xử lý dữ liệu và đặt ra bài toán riêng cho từng vận động viên, thì chưa.
Tôi lấy một thí dụ ai cũng nhìn thấy: Quách Thị Lan, dù chạy đơn hay chạy rào, khoảng 50-60m cuối là rất đuối. Người bảo thế này, người bảo thế kia, nhưng phải đo mới biết. Đó là hàm lượng axit lactic trong cơ thể đến ngưỡng nào thì đuối. Nhiệm vụ của huấn luyện là phải đẩy cái ngưỡng ấy lùi dần, để đến vạch đích vận động viên vẫn còn đủ sức. Khi đuối, xu hướng là sải bước dài ra, mà như thế lại phá vỡ kỹ thuật, nhất là chạy rào thì rất sợ không đủ lực lướt qua, phải nhảy qua rào, mất thêm thời gian rơi xuống rồi lại tăng tốc. Nếu không đo bằng máy, mình chỉ có thể hô “Cố lên!”, chứ không biết vận động viên đã thật sự chạm ngưỡng hay chưa.
- Vậy còn khâu kỹ thuật, công nghệ giúp được gì, thưa ông?
- Đây chính là chỗ nhóm môn kỹ thuật đòi hỏi hàm lượng khoa học cao nhất. Một cú nhảy xa, nếu chỉ nhìn hình tĩnh thì thấy góc đá lăng, đánh tay, thân người. Nhưng khi đưa vào phân tích hình động, sẽ có thêm thông số về lực giậm nhảy của bàn chân, lực tác động, và người ta tìm ra nguyên nhân: Thành tích chưa lên là do kỹ thuật đánh tay, hay chỉ đơn thuần do lực lưng yếu. Lưng không đủ vững thì lực mạnh mấy cũng bị “võng”, giống như đấm vào bao bông, lực thụt vào trong chứ không đẩy được trọng tâm lên.
Với một vận động viên nhảy xa nữ từng tiệm cận chuẩn Olympic, chỉ còn thiếu vài phân, bài toán đặt ra rất cụ thể: Với tốc độ ấy, lực đá lăng ấy, chỉ cần tăng góc bay lên một độ thôi thì quỹ đạo đã xa hơn, thành tích có thể tiến gần tới bảy mét. Nhưng muốn biết chính xác phải tăng cái gì, giảm cái gì, thì cần thiết bị đo, chứ không thể chỉ hô “đá lăng cao lên, giậm mạnh lên” mà không có gì để đối chiếu xem đã đủ mạnh hay chưa được.
- Thực tế, hiện trạng trang thiết bị của điền kinh Việt Nam đang ở đâu, thưa ông?
- Nói thật là chúng ta đang rất thiếu, mà nghịch lý là cái đang có lại không dùng. Ngay từ những năm 2000, chúng ta đã có máy phân tích tạm gọi là 3D (dù thực chất mới là ghép hình 2D từ các góc lại). Chúng ta cũng từng được trang bị nhiều máy đo tốc độ, đo axit lactic. Nhưng phần lớn để trong kho, mua rồi mà không ứng dụng.
Cái máy đo axit lactic thật ra chỉ như máy đo đường huyết, chích vào tay để đo sau buổi tập, không quá đắt. Nó cho biết khối lượng, cường độ buổi tập đã phù hợp chưa, sau một giờ nồng độ giảm bao nhiêu, sau hai giờ còn bao nhiêu, để tính quá trình hồi phục cho buổi tập hôm sau. Vào những giải như ASIAD hay Olympic, một nội dung kéo dài hai, ba ngày, hôm nay vòng loại, mai bán kết, sáng sau chung kết luôn, thì việc theo dõi hồi phục bằng số liệu là bắt buộc. Ở tầm thế giới, người vô địch đang chịu được ngưỡng axit lactic khoảng 8mmol/l, ta đang ở khoảng 5,5-6mmol/l. Không đo thì không thể biết mình đang ở đâu để mà đẩy con số ấy lên.
- Nếu chỉ chọn một hướng khả thi để làm ngay, không cần đầu tư quá lớn, ông sẽ ưu tiên điều gì?
- Đó không phải là “nên” mà là “Cần phải có!”. Và tôi muốn nhấn mạnh: Hãy vận dụng ngay cái đang có trong tay trước đã. Bây giờ mỗi vận động viên, mỗi huấn luyện viên đều có điện thoại, iPad, nhưng lại không dùng. Trong tay có sẵn chức năng quay chậm mà không ai mở ra xem.
Chính tại một kỳ Đại hội, tôi dùng chiếc điện thoại iPhone 6 của mình quay lại cú nhảy của vận động viên Vũ Thị Mến, gọi ra chỉ tận nơi: Chỗ này cháu cần kéo dài thời gian bay thêm một chút thôi thì bước sẽ dài ra. Sau giải đó, Mến phá kỷ lục 14,15m, nội dung nhảy ba bước nữ tại SEA Games 2017, một kỷ lục đến nay vẫn chưa ai vượt qua. Tôi tin phải 10 năm nữa mới có vận động viên nữ nhảy qua được mốc ấy. Đấy, chỉ từ một công cụ đơn giản nhất mà mình đã có sẵn.
Xa hơn, những cái trong tầm tay như máy đo axit lactic, máy đo nồng độ oxy trong máu, những chiếc vòng đeo theo dõi giấc ngủ, đều không quá tốn kém. Một vận động viên sẵn sàng bỏ tiền mua đôi giày 10 triệu đồng, thì cũng nên đầu tư một thiết bị theo dõi cơ thể mình. Đây phải là đầu tư từng bước, mua một, dùng hiệu quả rồi mua tiếp, chứ không phải cứ đòi ngay máy quay đa chiều đắt tiền. Nhưng cái nền, tức những thiết bị cơ bản cho nhóm cự ly trung bình và dài, thì Nhà nước phải đầu tư trước.
Chuyên gia Dương Đức Thủy từng giữ kỷ lục quốc gia nhảy ba bước (năm 1984) suốt 15 năm; và kỷ lục quốc gia nhảy xa (1985) suốt 10 năm. Kết thúc sự nghiệp thi đấu, ông lần lượt giữ các cương vị huấn luyện viên trưởng đội tuyển điền kinh quốc gia, và Trưởng bộ môn điền kinh Cục Thể dục Thể thao Việt Nam (cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 1/2022).
- Theo ông, khoa học công nghệ chiếm bao nhiêu phần trong thành công của một vận động viên?
- Nói thẳng là phải 75-80%. Thế mà chúng ta gần như không đầu tư đúng mức. Toàn bộ công tác dự báo thành tích, muốn chính xác, đều phải dựa trên nền tảng khoa học, chứ không thể “đếm cua trong lỗ”. Chính đề tài tiến sĩ của tôi là dự báo thành tích cho vận động viên nhảy ba bước: Anh cung cấp cho tôi đủ các thông số về sức mạnh, tốc độ, kỹ thuật, tôi sẽ nói được khả năng của anh, càng nhiều thông số thì độ chính xác càng cao, sai số càng nhỏ.
Chúng ta đã có những trường hợp tiệm cận đỉnh cao mà không nắm được. Bùi Thị Thu Thảo từng nhảy 6,68m, chỉ còn thiếu 2 cm là đạt chuẩn Olympic (6,70m). Quách Thị Lan, Quách Công Lịch cũng vậy, cả địa phương lẫn trung ương đều từng đầu tư, nhưng sau đó gần như để phát triển tự nhiên. Giá như từ những năm 2010-2014, chúng ta có nền tảng khoa học kỹ thuật để các nhà chuyên môn ngồi lại với các nhà kỹ thuật đưa ra biện pháp cụ thể, thì có lẽ đã khác. Đằng này, đến giờ chúng ta vẫn chỉ ngồi phân tích bằng mắt, rằng Quách Thị Lan 50-60m cuối cứ phải nhảy qua rào rồi lại mất đà. Cơ hội qua rồi thì vận động viên cũng không còn gì.
Và tôi phải nói thêm: Khoa học ở đây không chỉ là máy móc, mà gồm cả tâm lý và cách tư duy. Có lần, một vận động viên nhảy cao trẻ đang rất hưng phấn, chuyên gia bảo dừng, tôi lại đề nghị cho nhảy tiếp để tạo niềm tin, và em ấy vượt luôn mức mới. Điều chỉnh tâm lý đúng thời điểm cũng chính là một dạng khoa học. Đào tạo một vận động viên, xét cho cùng, là một công trình khoa học.
- Nhìn ra khu vực, đâu là hình mẫu ông cho rằng Việt Nam có thể học được?
- Tôi nghĩ là Indonesia và Malaysia, chứ không phải Singapore. Singapore phát triển vượt trội cả về kinh tế, khó lấy làm mẫu để đuổi theo. Còn Malaysia, Indonesia thì tôi từng trực tiếp sang các trung tâm của họ, thấy rõ cách làm. Ngay cạnh sân điền kinh của họ là cả hệ thống viện khoa học thể thao, trung tâm nghiên cứu, và các liên đoàn đều được hưởng chung ở đó. Dinh dưỡng, y học, khoa học đào tạo phải liên thông với nhau, không thể tách rời.
Đó cũng là cái ta còn thiếu. Chúng ta có đủ viện, trường, bệnh viện, trung tâm..., nhưng các đơn đặt hàng nghiên cứu từ các liên đoàn, bộ môn cho viện khoa học gần như không có. Nghiên cứu ra rồi hàm lượng ứng dụng vào thực tiễn lại quá ít, phần lớn chỉ dừng ở lý thuyết để giảng dạy. Muốn thay đổi, các phòng nghiên cứu phải được nâng cấp, phải có đủ máy đo lực, đo góc, chứ không thể mãi gom chỗ này dí vào chỗ kia. Và bên cạnh ngân sách nhà nước, phải có xã hội hóa thực thụ, tức những nhà tài trợ, chứ không phải chỉ là chia lại nguồn ngân sách từ Trung ương xuống địa phương rồi gọi đó là xã hội hóa.
Tôi luôn nói với các vận động viên: Phải trở thành những con người thông minh để tập luyện và thi đấu, biết tự lo cho mình, chứ không phải cứ ra giáo án là “cày” cho hết rồi về. Coi thể thao là một nghề, thì phải đầu tư cho cái nghề ấy như bất cứ nghề nào khác, từ những nấc nhỏ nhất.
- Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của ông!
Diệp Chi - Nhật Dũng (thực hiện)