Sáng sớm tại Trường trung học cơ sở Phúc Hòa, thầy giáo Nguyễn Thanh Tuấn ngồi trước màn hình, đọc để nắm bắt thông tin từ hệ thống dữ liệu dùng chung của Sở Giáo dục và Đào tạo. Chỉ vài thao tác, thầy nắm rõ tình hình học tập, chuyên môn của giáo viên và học sinh ở cả ba cơ sở khác cách nhau tới 6 km. “Nếu không có số hóa, việc điều hành một trường mới sáp nhập với bốn cơ sở như thế này sẽ rất vất vả”, Hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Phúc Hòa chia sẻ giản dị.
Câu chuyện ấy không chỉ riêng Phúc Hòa. Tại thành phố Bắc Ninh quá trình chuyển đổi số đang hiện hữu vào từng lớp học, từng buổi sinh hoạt Đội, từng giờ tự học của học sinh, biến những thói quen cũ thành cách làm việc mới, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Thêm nhìn nhận thẳng thắn: Chuyển đổi số thời gian qua đã khá toàn diện, không còn dừng ở việc đưa máy tính vào trường, mà đang chuyển sang quản trị, dạy học và cung cấp dịch vụ dựa trên nền tảng số, dữ liệu số. Hiện nay, tại Bắc Ninh, tất cả cơ sở giáo dục có trang thông tin điện tử. Tuyển sinh đầu cấp mầm non, lớp 1, 6, 10 thực hiện trực tuyến. Học bạ số được triển khai rộng rãi. Hồ sơ điện tử, sổ điểm điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt dần trở thành chuyện thường ngày. Từ đầu năm đến nay có hơn 56.000 cán bộ, giáo viên được bồi dưỡng về chuyển đổi số; hơn 704.000 học sinh và gần 187.000 cha mẹ học sinh được học tập, tuyên truyền qua hệ thống tổ chức quản lý, phân phối các khóa học (LMS). Ngành đang chuẩn bị triển khai hệ thống đăng nhập một lần (SSO) và xây dựng kho học liệu số dùng chung.
Tại Trường trung học phổ thông Yên Dũng 1, cô Ngụy Thị Hòa, giáo viên Địa lý, vui vẻ chia sẻ: “Nhà trường đã số hóa từ sổ điểm, học bạ đến kế hoạch bài dạy, kế hoạch giáo dục. Công nghệ giờ đây không chỉ để lưu trữ mà còn thật sự làm thay đổi cách tổ chức công việc dạy và học trong nhà trường”. Trong lớp học của cô Hòa, mô hình lớp học kết hợp được áp dụng: Học sinh tự tìm hiểu kiến thức ở nhà với sự hỗ trợ của công nghệ, rồi đến lớp trình bày, trao đổi, giải quyết tình huống thực tế. “Qua những hoạt động ấy, tôi thấy rõ em nào hiểu bài thật, em nào còn cần hỗ trợ. Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tôi cá nhân hóa việc dạy, chứ không phải để học sinh dựa vào để trả bài cho xong”, cô Hòa nói.
Em Phạm Ngọc Ánh, lớp 12A7, Trường trung học phổ thông Yên Dũng 1, cho biết: “Cháu dùng internet và AI như công cụ hỗ trợ. Tra cứu nhanh hơn, xem lại bài giảng dễ hơn, tự tạo bài tập phù hợp. Nhưng có lúc cháu cũng từng lạm dụng, coi AI như tư duy của mình. Giờ đây, cháu chỉ dùng để lấy ý tưởng, rồi tự giải quyết bằng sức mình. AI đã giúp học sinh chủ động hơn, tiếp cận kiến thức dễ dàng hơn nhưng vẫn cần đối chiếu với kiến thức thầy cô dạy trên lớp”.
Bên cạnh những thay đổi tích cực, thực tế công tác chuyển đổi số trong nhà trường ở Bắc Ninh vẫn còn gặp không ít khó khăn. Một số thiết bị chưa đồng bộ, một bộ phận giáo viên lớn tuổi tiếp cận công nghệ chậm hơn, nhiều học sinh vùng nông thôn phải dùng chung điện thoại với bố mẹ. Về vấn đề này, ông Thêm cho biết: Nền tảng dùng chung, học liệu dùng chung, dữ liệu dùng chung; hạ tầng đầu tư đồng đều; thiết bị hỗ trợ đúng đối tượng; nhân lực được bồi dưỡng thường xuyên. Mục tiêu cuối cùng không phải là có bao nhiêu phần mềm hay thiết bị, mà là mọi học sinh, dù ở đâu, hoàn cảnh thế nào, đều được tiếp cận học liệu chất lượng tốt và có cơ hội phát triển bình đẳng.
Từ những lớp học có màn hình ti-vi thông minh, từ hệ thống dữ liệu chung giúp hiệu trưởng điều hành từ xa, công cuộc chuyển đổi số trong giáo dục ở thành phố Bắc Ninh đang từng bước trở thành động lực thật sự nâng cao chất lượng giáo dục.
TUỆ LÂM