Bỏ qua điều hướng
•

Chủ động thích ứng biến đổi khí hậu

Chủ động thích ứng biến đổi khí hậu
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trước những tác động của biến đổi khí hậu, các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng, chủ động phòng ngừa và giảm rủi ro thiên tai.

Từ đô thị lớn như Hà Nội, vùng ven biển và miền núi như Quảng Ninh đến địa bàn có hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù như Ninh Bình đều đang triển khai nhiều giải pháp gắn quy hoạch với hạ tầng thích ứng, chuyển đổi xanh, ứng dụng khoa học-công nghệ và bảo vệ hệ sinh thái, hướng tới phát triển nhanh, bền vững.

Theo nhận định của Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, biến đổi khí hậu đang làm gia tăng những thách thức đối với quá trình phát triển của Đồng bằng sông Hồng. Các rủi ro thiên tai tại khu vực ngày càng rõ nét, tập trung ở năm nhóm vấn đề lớn, gồm: sạt lở đất, xâm nhập mặn, lũ lụt, ô nhiễm môi trường và hạn hán. Những hiện tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất của người dân, đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức quản lý, quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Trong bối cảnh đó, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được xác định là những nhiệm vụ quan trọng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Đây cũng là cơ sở để các địa phương cụ thể hóa các giải pháp phù hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và những nguy cơ thiên tai đặc thù của từng địa bàn.

Với đặc thù là đô thị lớn, mật độ dân cư và hệ thống hạ tầng ngày càng cao, Hà Nội chịu sức ép lớn từ các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhất là mưa lớn, ngập úng và những vấn đề liên quan dòng chảy, sạt lở ven sông. Vì vậy, yêu cầu thích ứng biến đổi khí hậu đang được đặt trong quá trình quy hoạch và phát triển Thủ đô với tầm nhìn dài hạn. Một trong những định hướng đáng chú ý là chuyển đổi sang mô hình “Thành phố bọt biển” trong phòng, chống thiên tai. Theo đó, đô thị được tổ chức theo hướng tăng khả năng thấm và trữ nước mưa tự nhiên, giảm áp lực cho hệ thống thoát nước khi xuất hiện những trận mưa lớn. Cùng với đó, Hà Nội nghiên cứu quy hoạch hệ thống “bể ngầm đa năng”, là những không gian ngầm có chức năng chứa nước, kết hợp với tuy-nen, hào kỹ thuật và giao thông ngầm để lưu trữ nước mưa đầu mùa, góp phần giảm quá tải cho hệ thống thoát nước chính. Thành phố cũng tính tới việc bổ sung các hồ điều hòa, khơi thông dòng chảy, kết hợp trồng rừng và bố trí các trạm bơm công suất lớn để chủ động tiêu thoát nước. Thích ứng biến đổi khí hậu cũng được đặt trong yêu cầu quản lý chặt chẽ hành lang sông và kiểm soát nguy cơ sạt lở.

Tại Quảng Ninh, đặc điểm không gian phát triển đa dạng với vùng ven biển, hải đảo, đồi núi và khu vực khai trường mỏ đặt ra những yêu cầu riêng về quản trị tài nguyên, bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng chống chịu thiên tai. Theo đồng chí Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh, hiện nay thành phố có nhiều cơ hội phát triển kinh tế biển, logistics, công nghiệp hiện đại và du lịch di sản. Song cùng với đó là những áp lực ngày càng lớn về quản trị tài nguyên, bảo tồn môi trường và nâng cao năng lực chống chịu trước thiên tai phù hợp từng vùng sinh thái.

Quảng Ninh đang từng bước chuyển từ tư duy ứng phó bị động sang chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, trong đó lấy hệ sinh thái làm lá chắn, lấy sinh kế xanh làm động lực thích ứng. Đây là hướng đi phù hợp đặc thù của một địa phương có đường bờ biển dài, hệ thống đảo, vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn phong phú. Tại các khu vực ven biển, việc phục hồi, bảo vệ và mở rộng rừng ngập mặn đang được gắn với tạo sinh kế cho cộng đồng. Mô hình nuôi cua biển dưới tán rừng ngập mặn ở khu vực Hải Đông 2, Hải Đông 3 (Móng Cái) là một thí dụ. Việc kết hợp bảo tồn rừng với nuôi thủy sản sinh thái giúp người dân có thêm thu nhập, đồng thời duy trì “lá chắn xanh” có khả năng giảm tác động của sóng, bão, triều cường, hạn chế xói lở và bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Cùng với đó, Quảng Ninh thúc đẩy nuôi biển theo hướng công nghiệp, hiện đại, ứng dụng khoa học-công nghệ và tổ chức vùng nuôi tập trung, qua đó nâng cao khả năng chống chịu trước thời tiết cực đoan. Việc thay thế phao xốp bằng vật liệu hợp quy, có khả năng tháo lắp, tái sử dụng cũng góp phần giảm ô nhiễm môi trường biển và tăng tính bền vững cho hoạt động nuôi trồng thủy sản. Từ rừng ngập mặn đến nuôi biển và du lịch sinh thái, Quảng Ninh đang hình thành cách tiếp cận thích ứng dựa trên bảo tồn tài nguyên, giảm áp lực lên môi trường và tạo sinh kế bền vững. Qua đó, thích ứng biến đổi khí hậu không chỉ là bảo vệ cộng đồng trước thiên tai, mà còn mở ra những không gian kinh tế xanh, giúp người dân ven biển chủ động thích nghi và phát triển lâu dài.

Với thế mạnh là địa phương có địa hình đa dạng từ đồng bằng, đồi núi cho đến vùng ngập mặn, từ nhiều năm qua, tỉnh Ninh Bình đã tận dụng thế mạnh đó trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, tỉnh cũng xác định đang phải đối mặt với tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, từ đó đưa ra các giải pháp ứng phó. Tỉnh đặt vấn đề bảo vệ môi trường là trung tâm trong các quyết định phát triển, qua đó triển khai các chủ trương, chính sách nhằm nâng cao nhận thức về quản lý tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái và tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Những kết quả đạt được cho thấy môi trường đang được cải thiện theo hướng tích cực.

Theo đồng chí Bùi Văn Mạnh, Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình, trong lĩnh vực du lịch, Ninh Bình đang hướng tới phát triển du lịch xanh, giảm phát thải thông qua sử dụng phương tiện giao thông điện, xe đạp, đi bộ; tiết kiệm năng lượng, tăng sử dụng năng lượng tái tạo tại cơ sở lưu trú; giảm rác thải nhựa, phân loại và tái chế chất thải; tiết kiệm, xử lý và tái sử dụng nước; phát triển các công trình xanh, hạn chế bê-tông hóa. Đồng thời, tỉnh khuyến khích du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, nâng cao giá trị mỗi chuyến đi, bảo tồn hệ sinh thái và xây dựng điểm đến các-bon thấp, hướng tới phát triển du lịch bền vững. Cùng với bảo vệ môi trường, tỉnh triển khai các giải pháp thích ứng trực tiếp với thiên tai và biến đổi khí hậu. Từ thực tiễn đó, Ninh Bình đặt ra yêu cầu tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang nền kinh tế “xanh”, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, phát triển năng lượng tái tạo và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, các dự án giảm phát thải.

Các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường cho rằng, các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng cần tiếp tục có những giải pháp đồng bộ nhằm thích ứng biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Hậu, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, trước hết cần tăng cường quản lý tài nguyên nước gắn với phòng, chống thiên tai; nâng cấp đê điều, hồ chứa, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và quy hoạch các vùng thoát lũ, khu vực chứa nước tự nhiên; kiểm soát khai thác nước ngầm nhằm bảo đảm cân bằng nguồn nước. Trong nông nghiệp, cần đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất, lựa chọn giống cây trồng phù hợp, ứng dụng nông nghiệp thông minh, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính. Cùng với đó, bảo vệ, phục hồi rừng ngập mặn và hệ sinh thái đất ngập nước để tăng khả năng chống chịu trước thiên tai. Đối với đô thị, cần tích hợp yêu cầu thích ứng biến đổi khí hậu vào quy hoạch, phát triển hệ thống thoát nước, tăng diện tích cây xanh, giao thông công cộng và sử dụng năng lượng sạch.

VÂN TRANG

Trước những tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu, các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng và chủ động giảm thiểu rủi ro thiên tai. Theo đánh giá của Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, khu vực này đang chịu áp lực lớn từ năm nhóm thách thức chính gồm sạt lở đất, xâm nhập mặn, lũ lụt, ô nhiễm môi trường và hạn hán. Thực trạng đó đòi hỏi sự thay đổi toàn diện trong phương thức quản lý, quy hoạch cũng như tổ chức không gian phát triển nhằm bảo vệ đời sống và hoạt động sản xuất của người dân. Để giải quyết bài toán hạ tầng đô thị, Hà Nội đang lồng ghép các giải pháp thích ứng dài hạn vào công tác quy hoạch phát triển Thủ đô. Thành phố nghiên cứu triển khai mô hình "Thành phố bọt biển" kết hợp hệ thống bể ngầm đa năng và tuy-nen kỹ thuật nhằm tăng khả năng lưu trữ, tiêu thoát nước tự nhiên. Bên cạnh đó, việc bổ sung hồ điều hòa, khơi thông dòng chảy, phát triển rừng và kiểm soát chặt chẽ hành lang ven sông được coi là các giải pháp then chốt để kiểm soát nguy cơ ngập úng và sạt lở. Tại Quảng Ninh, địa phương có địa hình đa dạng từ vùng ven biển, hải đảo đến đồi núi và khu vực khai thác mỏ, công tác chống chịu thiên tai được gắn liền với đặc thù từng vùng sinh thái. Đồng chí Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh, nhấn mạnh địa phương đang tối ưu hóa cơ hội phát triển kinh tế biển, logistics và du lịch di sản song song với áp lực quản trị tài nguyên. Việc chủ động thích ứng biến đổi khí hậu chính là cơ sở để các tỉnh, thành phố cụ thể hóa Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển vùng bền vững.