Bỏ qua điều hướng
•

Chuyên gia nêu cách giảm thực chất lãi suất cho vay 1,5-2%

Chuyên gia nêu cách giảm thực chất lãi suất cho vay 1,5-2%
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Nếu các ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối giảm lãi suất và nới điều kiện cho vay, những ngân hàng khác cũng phải cạnh tranh để thu hút khách hàng. Và doanh nghiệp phải làm ăn được thì mới vay vốn.

Ngay sau thông tin Phó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp, phóng viên báo Dân trí đã trao đổi với chuyên gia kinh tế, TS Huỳnh Thanh Điền về những giải pháp có thể giảm lãi vay thực chất.

Cần những giải pháp cụ thể nào để giảm lãi suất cho vay thực chất, thay vì chỉ dừng ở yêu cầu hay cam kết của các ngân hàng?

- Chủ trương giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên là cần thiết trong thời điểm hiện nay. 

Chuyên gia nêu cách giảm thực chất lãi suất cho vay 1,5-2% - 1

TS Huỳnh Thanh Điền.

Thực tế, hệ thống có hàng chục ngân hàng, không thể yêu cầu tất cả ngân hàng giảm lãi suất một cách đơn giản, bởi họ còn có cổ đông và phải hoạt động kinh doanh. Theo tôi, vấn đề là phải tạo áp lực để các ngân hàng giảm lãi suất.

Các ngân hàng cạnh tranh với nhau trong huy động vốn và cho vay. Vì vậy, có thể yêu cầu nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối để làm gương. Chính phủ giao mục tiêu giảm lãi suất cho nhóm ngân hàng này, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn. Khi nhóm ngân hàng này giảm lãi suất, những ngân hàng khác muốn cạnh tranh và cho vay được cũng phải xem xét giảm theo.

Cần thay đổi quan điểm quản lý hệ thống ngân hàng và lãi suất. Thậm chí, có thể xem xét áp dụng trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay đối với các ngân hàng, đồng thời thanh tra, kiểm tra chặt chẽ.

Không nên cho rằng đã là kinh tế thị trường thì phải để lãi suất hoàn toàn do thị trường quyết định. Bản chất của hoạt động ngân hàng là sử dụng tiền gửi của người dân để cho vay. Ngân hàng cần nghĩ đến việc hỗ trợ doanh nghiệp và tạo nguồn thu từ các dịch vụ, thay vì chủ yếu hưởng chênh lệch lãi suất.

Vậy có nên triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế không?

- Về đề xuất Nhà nước hỗ trợ 2% lãi suất, theo tôi, cơ chế này đã được đề xuất nhiều lần và từng được áp dụng trong quá khứ nhưng hiệu quả chưa cao. TPHCM cũng từng có chương trình hỗ trợ lãi vay hoặc cho vay với lãi suất thấp bằng nguồn vốn Nhà nước. Tuy nhiên, điều kiện tiếp cận rất khắt khe, thường chỉ những doanh nghiệp có tình hình kinh doanh tốt mới vay được.

Giải pháp hỗ trợ lãi suất 2% cũng được đề cập trong các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và trong dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng theo tôi, đây không phải gốc rễ của vấn đề, bởi việc triển khai còn liên quan đến nhiều khâu, trong đó có rủi ro và lợi ích của các bên. Có trường hợp lợi ích nhận được không tương xứng với rủi ro phải gánh chịu.

Chuyên gia nêu cách giảm thực chất lãi suất cho vay 1,5-2% - 2

Kiểm đếm VND tại ngân hàng (Ảnh: Thành Đông).

Làm sao để việc giảm lãi suất lan tỏa đến đông đảo doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu - những nhóm có nhu cầu vốn lớn nhưng khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế?

- Cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Việc cho vay không nhất thiết phải có tài sản thế chấp mà có thể dựa vào việc thẩm định báo cáo tài chính, dòng tiền và các hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp.

Khi điều kiện vay vốn thuận lợi hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn. Nếu các ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối giảm lãi suất và nới điều kiện cho vay, những ngân hàng khác cũng phải cạnh tranh để thu hút khách hàng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp phải làm ăn được thì mới vay vốn. Nếu doanh nghiệp đủ điều kiện vay thì có thể vay ở nhiều ngân hàng. Vì vậy, vấn đề không chỉ là giảm lãi suất mà còn phải tạo điều kiện thực chất cho doanh nghiệp hoạt động.

Chẳng hạn, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có quy định ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mua sắm công. Nhưng khi triển khai, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về lao động, môi trường và các điều kiện khác, khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận.

Một vấn đề nữa là nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam sản xuất, xuất khẩu vẫn phải nhập khẩu nguyên phụ liệu, linh kiện từ nước ngoài, trong khi doanh nghiệp trong nước có khả năng sản xuất, cung ứng nhưng chưa được hỗ trợ phù hợp. Vì vậy, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng, qua đó giúp dòng vốn đi vào sản xuất.

Để chính sách giảm lãi suất phát huy hiệu quả và tạo động lực cho sản xuất, kinh doanh, cần sự phối hợp thế nào giữa ngân hàng, cơ quan quản lý và bản thân doanh nghiệp? Ngoài giảm lãi suất, cần thêm cơ chế gì để hỗ trợ, tạo động lực?

- Thực tế, lãi suất chỉ là một phần của câu chuyện phát triển doanh nghiệp. Điều quan trọng là phải triển khai đồng bộ các giải pháp, trước hết là tạo điều kiện để doanh nghiệp có đơn hàng.

Chẳng hạn, cần thực hiện chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mua sắm công. Đồng thời, phải tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, cung ứng nguyên phụ liệu và linh kiện cho các doanh nghiệp khác, thay vì để dòng vốn không đi vào sản xuất.

Về tổng thể, cần định hướng dòng tiền vào sản xuất, kinh doanh. Trong một nền kinh tế phát triển tốt, người có tiền có thể đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu để cung cấp vốn cho doanh nghiệp.

Về phía ngân hàng, cần xác định đúng vai trò trung gian tài chính, sử dụng nguồn vốn huy động để phục vụ nền kinh tế. Về phía cơ quan quản lý, cần có những biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu giảm lãi suất. Bởi nếu chỉ đưa ra yêu cầu mà không có biện pháp thực hiện quyết liệt thì rất khó đạt được kết quả.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, khi có tiền, nhiều người lại lựa chọn mua đất, vàng hoặc tham gia các hoạt động đầu cơ. Khi dòng tiền không đi vào sản xuất mà tập trung vào đầu cơ, tín dụng cũng có thể chảy vào các lĩnh vực này...

Vì vậy, cần giải quyết tận gốc vấn đề, làm sao để hoạt động đầu cơ bất động sản không còn quá hấp dẫn; phát triển thị trường chứng khoán theo hướng nhà đầu tư thực sự cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Người tham gia thị trường cần đầu tư vào những doanh nghiệp có khả năng hoạt động tốt, thay vì chủ yếu mua đi bán lại để kiếm lời từ biến động giá.

Cần cải thiện thủ tục hành chính. Việc thành lập doanh nghiệp có thể hoàn thành nhanh chóng, nhưng khi muốn rút lui khỏi thị trường lại rất khó khăn. Có những doanh nghiệp đăng ký thành lập mà chưa từng hoạt động, chưa phát sinh hóa đơn nhưng vẫn gặp khó khăn khi làm thủ tục giải thể, tốn kém nhiều chi phí. Điều này làm giảm động lực khởi nghiệp và khiến người dân e ngại khi muốn quay lại kinh doanh.

Xin cám ơn ông!

Yêu cầu giảm lãi suất cho vay từ 1,5 đến 2% của Phó Thủ tướng Chính phủ đối với sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên là chủ trương cấp thiết nhằm trợ lực nền kinh tế. Dù vậy, theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền, việc áp đặt chỉ tiêu hành chính lên toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là không khả thi do rào cản từ áp lực kinh doanh và quyền lợi cổ đông. Để chính sách thẩm thấu vào thực tiễn, giải pháp căn cơ là giao chỉ tiêu đi đầu cho nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối nhằm kích hoạt làn sóng cạnh tranh thị trường. Bên cạnh đòn bẩy cạnh tranh, công tác quản lý lãi suất cần thay đổi tư duy điều hành với việc xem xét áp trần lãi suất huy động lẫn cho vay đi kèm thanh tra nghiêm ngặt. Các tổ chức tín dụng phải chuyển dịch nguồn thu sang mảng dịch vụ thay vì phụ thuộc quá mức vào biên độ chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay. Bài học từ các gói cấp bù lãi suất 2% trước đây cho thấy cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách thường kém hiệu quả vì quy trình xét duyệt phức tạp cùng rủi ro giải ngân cao. Trọng tâm tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng hiện nay nằm ở việc nới lỏng điều kiện tiếp cận vốn cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp truyền thống, hệ thống ngân hàng cần linh hoạt chuyển hướng sang đánh giá phương án kinh doanh khả thi. Doanh nghiệp chỉ có thể hấp thụ nguồn vốn vay và phục hồi bền vững khi đơn hàng cùng năng lực sản xuất được khơi thông thực chất.
amung