Bỏ qua điều hướng
•

Chuyên gia: Sản lượng dầu phục hồi nhưng còn bằng nửa thời đỉnh cao

Chuyên gia: Sản lượng dầu phục hồi nhưng còn bằng nửa thời đỉnh cao
Nguồn ảnh: VnExpress

Sản lượng dầu trong nước tăng 10,4% trong 9 tháng, song mới bằng khoảng một nửa mức đỉnh năm 2004, đặt ra bài toán duy trì khai thác và tìm nguồn tăng trưởng mới.

Trình bày tham luận tại Diễn đàn Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam ngày 29/10, ông Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, dẫn số liệu thống kê cho biết sản lượng dầu năm 2025 tăng lần đầu sau 11 năm giảm, tiếp tục phục hồi trong 9 tháng đầu năm nay.

Song theo ông, mức khai thác hiện mới bằng khoảng một nửa thời đỉnh cao năm 2004. Hiện, mỏ Bạch Hổ đã khai thác 40 năm, trong khi tiềm năng còn lại ở vùng nước sâu, xa bờ, rủi ro cao.

Theo ông Đào Quang Bính, Phó chủ tịch, Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nhiều mỏ chủ lực đã suy giảm sản lượng tự nhiên. Ngành còn chịu sức ép từ nhu cầu năng lượng gia tăng, biến động địa chính trị và cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Vì vậy, ông cho rằng ngành cần tái cấu trúc chuỗi giá trị, chuyển từ mô hình khai thác tài nguyên truyền thống sang phát triển công nghiệp - năng lượng và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao.

Giàn khoan dầu khí ngoài khơi. Ảnh: PVN

Giàn khoan dầu khí ngoài khơi. Ảnh: PVN

Thực tế, dầu khí không chỉ là một ngành kinh tế mà còn liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia. Điều này, theo chuyên gia, đặt ra yêu cầu vừa gia tăng khả năng khai thác trong nước, vừa chủ động nguồn cung, dự trữ và phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Để giữ đà phục hồi, Tập đoàn Năng lượng - Công nghiệp Quốc gia Việt Nam (PVN) xác định tăng hệ số thu hồi, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên, tận thu tài nguyên và đánh giá chuyển đổi công năng hạ tầng hiện hữu. Với dự án phức tạp, tập đoàn hướng tới hợp tác quốc tế để thu hút công nghệ, vốn và chia sẻ rủi ro.

Song các giải pháp này cần cơ chế phù hợp từng loại mỏ. Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu cho biết Luật Dầu khí năm 2026 tập trung phân quyền, đơn giản hóa thủ tục, thu hút đầu tư và phát triển dịch vụ.

Nhà điều hành cũng đưa ra giải pháp nhằm khuyến khích khai thác những mỏ có hiệu quả kinh tế thấp hoặc điều kiện khai thác khó khăn. Cụ thể, dự án thuộc diện ưu đãi được áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp 32%, thuế xuất khẩu 10%, mức thu hồi chi phí 70%. Diện ưu đãi đặc biệt có các mức tương ứng 25%, 5%, 80%. Riêng mỏ cận biên được áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp 25%, thuế xuất khẩu 5% và thu hồi toàn bộ chi phí.

Góp ý thêm, ông Vũ Quang Minh đề xuất tham khảo Malaysia về hợp đồng linh hoạt theo loại mỏ, mời thầu hàng năm theo lịch công bố trước. Việt Nam cũng có thể mở kho dữ liệu tài nguyên, giúp doanh nghiệp đánh giá cơ hội đầu tư.

Theo ông, chính sách cần ổn định để doanh nghiệp dự báo điều kiện kinh doanh dài hạn. Đi cùng phân quyền là phân định rõ vai trò đại diện nước chủ nhà và nhà thầu, công khai chi phí nhiệm vụ Nhà nước giao cho PVN, tránh để tập đoàn gánh nhiệm vụ không sinh lời mà thiếu bù đắp minh bạch.

Về dài hạn, bà Đặng Thị Thu Hoài, Trưởng phòng Kinh tế ngành và địa phương, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, đề xuất chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào tài nguyên, sản lượng và doanh thu sang phát triển đồng bộ chuỗi giá trị.

Trọng tâm là chế biến sâu, hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao. Ngành cần đa dạng hóa nguồn cung, thị trường nhập khẩu, đồng bộ hạ tầng chế biến, vận chuyển, dự trữ, phân phối. Bên cạnh đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa cần được áp dụng để nâng hiệu suất và năng lực cạnh tranh.

Ở khía cạnh này, đại diện PVN cho biết tập đoàn định hướng chuyển đổi từ doanh nghiệp dầu khí truyền thống sang tập đoàn công nghiệp - năng lượng tích hợp. Trong chuỗi khí và LNG, họ phát triển theo hướng kết nối nguồn cung với hạ tầng tồn trữ, vận chuyển và các cơ sở tiêu thụ như nhà máy điện, hóa chất, khu công nghiệp. Với lọc hóa dầu, tập đoàn hướng tới chuyển dịch từ sản phẩm thông thường sang hóa chất chuyên dụng, vật liệu mới phục vụ công nghiệp chế tạo.

Tập đoàn cũng đặt hướng phát triển các trung tâm công nghiệp - năng lượng tích hợp, kết nối nhà máy điện, cơ khí chế tạo, lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật và logistics trên hạ tầng dùng chung. Theo PVN, mô hình này có thể giúp giảm chi phí, tận dụng phụ phẩm, nhiệt thải và phát triển các hoạt động công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Với năng lượng mới, tập đoàn chọn lộ trình thận trọng, ưu tiên thương mại hóa những lĩnh vực có lợi thế và thị trường sẵn sàng. Các hướng nghiên cứu trong trung và dài hạn gồm điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amoniac xanh và công nghệ thu giữ, sử dụng, lưu trữ carbon.

Nền tảng là kinh nghiệm công trình biển, chế tạo và vận hành ngoài khơi. Song để triển khai, PVN cho biết họ cần chính sách minh bạch, đồng bộ giữa các quy định về dầu khí, điện lực, đất đai, môi trường. Cùng với đó, cơ chế cần theo hướng chia sẻ rủi ro, hợp đồng đầu ra và giá rõ ràng để huy động vốn dài hạn.

Phương Dung

Dù sản lượng dầu trong nước ghi nhận mức tăng 10,4% trong 9 tháng đầu năm, quy mô khai thác hiện nay mới chỉ đạt khoảng một nửa so với thời kỳ đỉnh cao năm 2004. Thực tế mỏ chủ lực Bạch Hổ đã vận hành suốt 40 năm cùng đà suy giảm tự nhiên tại nhiều mỏ lớn đang đặt ngành năng lượng trước thách thức nghiêm trọng. Trong khi đó, phần lớn tiềm năng tài nguyên còn lại tập trung ở các vùng nước sâu, xa bờ với chi phí và rủi ro kỹ thuật rất lớn. Để duy trì nguồn cung, Tập đoàn Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) tập trung đẩy mạnh tăng hệ số thu hồi, khai thác các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ rủi ro công nghệ. Cùng với đó, Luật Dầu khí năm 2026 đã đưa ra các khung ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25% đến 32% và mức thu hồi chi phí lên tới 80% đối với các dự án khó khăn. Việc phân cấp phân quyền và cải cách thủ tục đầu tư được xem là đòn bẩy pháp lý thiết thực nhằm kích hoạt các khu vực mỏ có hiệu quả kinh tế biên. Về định hướng dài hạn, các chuyên gia khuyến nghị ngành dầu khí cần sớm tái cấu trúc toàn diện theo hướng phát triển công nghiệp năng lượng và chế biến sâu. Thay vì tăng trưởng thuần túy dựa vào khai thác thô, trọng tâm phát triển cần chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực hóa dầu, công nghệ cao và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Bước chuyển đổi này không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mà còn giúp Việt Nam hiện thực hóa lộ trình cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
amung