Bỏ qua điều hướng

Cô giáo vùng biên khiêng xe máy vượt suối, băng rừng đến điểm trường '3 không'

Cô giáo vùng biên khiêng xe máy vượt suối, băng rừng đến điểm trường '3 không'
Nguồn ảnh: VietnamNet

Khiêng xe máy vượt suối, băng rừng, ngủ lại điểm trường cả tuần là chuyện quen thuộc với những cô giáo vùng cao Nghệ An. Ở những điểm trường “3 không”, các cô vẫn bám bản, bám lớp để duy trì việc dạy học.

XEM CLIP:

Trước thềm năm học mới, cầu tạm Yên Hòa (xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An) bị lũ cuốn trôi, đến nay chưa thể khắc phục. Sự cố làm hơn 200 hộ dân ở các bản Yên Hòa, Nhọt Lợt và Piêng Pèn rơi vào cảnh bị cô lập, đồng thời khiến hành trình đến lớp của giáo viên Trường Mầm non Mỹ Lý 2 thêm nhọc nhằn.

W-cô Huế.JPG.jpg
Cô Lương Thị Huế chia sẻ hành trình gian nan để vào đến điểm trường. Ảnh: T.T

Năm nay, cô Lương Thị Huế được phân công phụ trách điểm trường Nhọt Lợt. Dù đã nhiều năm gắn bó với vùng cao, cô vẫn không khỏi lo lắng khi tuyến đường chính vào bản giờ đây bị chia cắt bởi dòng nước xiết.

“Cầu mất rồi, giáo viên phải phụ thuộc vào thuyền để qua sông. Nếu đi người không là 20.000 đồng, đưa cả xe máy sang bờ bên kia thì 50.000 đồng/chuyến. Những ngày nước dâng cao, giá còn đắt hơn nữa”, cô Huế chia sẻ.

Nếu không đi thuyền mà dùng xe máy, các cô phải đi vòng thêm hàng chục km và mất gần 5 giờ di chuyển. Nhiều đoạn suối, khe tràn nước chảy xiết, cô cùng người dân phải gồng sức khiêng xe máy băng qua.

W-mầm non Mỹ Lý.jpg
Nước chảy xiết, giáo viên cùng người dân khiêng xe qua khe tràn. Ảnh: L.H

Cô Huế cho biết vào mùa mưa, mỗi lần lên điểm trường, các giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ lương thực, từ cá khô, mắm, muối đến mì tôm, bởi việc trở lại trung tâm xã có thể bị gián đoạn nhiều ngày.

“Vào tới điểm trường nhiều lúc tủi thân mà bật khóc”, cô Huế tâm sự.

Điểm trường “3 không”

Không chỉ đường đi cách trở, điều kiện sinh hoạt, dạy học tại các điểm trường lẻ ở Mỹ Lý cũng thiếu thốn đủ bề.

Cô Lô Thị Bích, phụ trách điểm trường Xốp Dương, cho biết cô đã luân phiên qua nhiều điểm trường. Với giáo viên vùng cao, ở lại điểm trường cả tuần, cuối tuần mới trở về nhà là chuyện quen thuộc.

W-cô Bích.JPG.jpg
Cô Lô Thị Bích có hơn 20 năm công tác tại Mỹ Lý. Ảnh: T.T

“Điểm Xốp Dương không có điện lưới, sóng điện thoại lúc có lúc không. Giáo viên ở lại điểm trường, cùng sống với dân bản, với các cháu suốt nhiều năm qua", cô Bích nói.

Tại bản Cha Nga - nơi cách trung tâm xã gần 30km, cô Lô Thị Chai hiện phụ trách điểm mầm non cắm bản. Đường vào đây chỉ đi được xe máy khoảng 10km đầu, quãng còn lại các cô phải gửi xe nhờ nhà dân rồi đi bộ, lội suối.

“Cha Nga là bản không điện lưới, không sóng điện thoại, không Internet. Mang điện thoại vào đây nhiều khi chỉ để xem lại ảnh của con và gia đình”, cô Chai kể.

Để giữ liên lạc, phần lớn hộ dân nơi đây tự trang bị hoặc được hỗ trợ máy bộ đàm cầm tay. Khi học sinh ốm hay sốt bất thường, giáo viên sẽ dùng bộ đàm thông báo cho phụ huynh.

Dù được một đơn vị thiện nguyện hỗ trợ hệ thống điện năng lượng mặt trời, nguồn điện này chỉ đủ phục vụ việc dạy học trong giờ lên lớp.

Không thể áp dụng thiết bị hiện đại, các cô chủ yếu dùng tranh ảnh và đồ dùng trực quan để giúp trẻ tiếp thu bài.

W-lớp học biên giới.jpg
Điểm trường bản Cha Nga còn nhiều thiếu thốn về cơ sở vật chất. Ảnh: L.C

Nhưng khó khăn không dừng lại ở lớp học. Sau giờ đứng lớp, các cô lại xoay xở với những thiếu thốn trong sinh hoạt hằng ngày.

Không có công trình phụ và nguồn nước sạch, các cô phải tắm giặt ở những khe suối gần bản. Trời ấm còn đỡ, những ngày rét, nước suối lạnh buốt, các cô phải gánh nước về đun rồi mới có thể tắm.

Không có nhà công vụ, các cô tận dụng căn nhà gỗ làm nơi ở; phòng kho được kê dọn thành chỗ ngủ.

Buổi tối, khi học sinh đã về nhà, các cô tranh thủ soạn giáo án. “Điện cù” lấy sức nước dưới suối được tận dụng để thắp sáng. 

Không có những tiện nghi quen thuộc của cuộc sống dưới xuôi, các cô chỉ quanh quẩn trong căn phòng nhỏ sau một ngày đứng lớp. Đó cũng là lúc nỗi nhớ gia đình ùa về, nhất là với những nữ giáo viên phải gửi con nhỏ cho ông bà, chồng chăm sóc để lên bản công tác. Muốn gọi về nhà, các cô phải tìm điểm có sóng.

“Nhớ nhà cũng không thể làm gì. Muốn liên lạc phải đi ra ngoài bản, may mắn có điểm sóng rơi thì mới gọi về được”, cô Chai chia sẻ.

Mầm non Mỹ Lý.jpg
Bữa cơm vội giữa rừng của các giáo viên Trường Mầm non Mỹ Lý 2 trên hành trình vào điểm trường. Ảnh: NVCC

Bà Kha Thị Thảo, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Mỹ Lý 2, cho biết năm học này trường dự kiến có hơn 120 học sinh, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc Thái, học tại một điểm trường chính và 6 điểm trường lẻ ở các bản Nhọt Lợt, Piêng Pèn, Cha Nga, Xốp Dương...

Theo bà Thảo, địa hình cách trở khiến trường phải duy trì các điểm trường lẻ để trẻ thuận lợi đến lớp, dù nhiều nơi còn thiếu điện, sóng điện thoại, internet và cơ sở vật chất.

“Giáo viên muốn đến được với học sinh phải vượt qua rất nhiều khó khăn. Nhà trường động viên các cô bám bản, bám lớp, bởi nếu giáo viên không vào thì các cháu ở bản không có điều kiện đến trường”, bà Thảo nói.

Giữa vùng núi giáp biên, những giáo viên mầm non vẫn lặng lẽ bám bản. Họ mang theo giáo án, lương thực và cả sự kiên trì, để mỗi ngày những lớp học nhỏ giữa núi rừng vẫn có tiếng trẻ thơ.

Kỳ tới: Cô giáo lên rẫy tìm học sinh, chờ cha mẹ 'đủ tuổi' để khai sinh cho trò 

Sự cố cầu tạm Yên Hòa bị lũ cuốn trôi trước thềm năm học mới đã khiến hơn 200 hộ dân cùng giáo viên Trường Mầm non Mỹ Lý 2 tại xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An bị cô lập. Hành trình đến các điểm trường cắm bản như Nhọt Lợt, Xốp Dương và Cha Nga trở nên vô cùng gian nan khi các cô giáo phải chi trả chi phí đi thuyền đắt đỏ hoặc đi vòng hàng chục ki-lô-mét qua những khe tràn nước chảy xiết. Mỗi chuyến lên bản trong mùa mưa bão luôn đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lương thực khô cùng quyết tâm bám trụ kiên cường của đội ngũ sư phạm. Tại các điểm trường lẻ, điều kiện dạy và học vẫn đối mặt với thực trạng thiếu thốn nghiêm trọng khi cùng lúc chịu ảnh hưởng của tiêu chuẩn "3 không" gồm không điện lưới, không sóng điện thoại và không Internet. Để duy trì liên lạc và xử lý tình huống khẩn cấp, giáo viên cùng phụ huynh phải sử dụng máy bộ đàm cầm tay. Do nguồn điện năng lượng mặt trời từ đơn vị thiện nguyện tài trợ chỉ đủ phục vụ giờ lên lớp, việc giảng dạy hoàn toàn dựa trên tranh ảnh và đồ dùng trực quan thay vì thiết bị hiện đại. Bên cạnh áp lực chuyên môn, đời sống sinh hoạt của những giáo viên vùng biên như cô Lương Thị Huế, cô Lô Thị Bích và cô Lô Thị Chai cũng chịu nhiều ảnh hưởng do thiếu công trình phụ và nước sạch. Việc bám bản, ở lại điểm trường suốt tuần và sinh hoạt cùng người dân địa phương đã trở thành nếp sống quen thuộc của các cô suốt hàng chục năm qua. Sự kiên trì của đội ngũ giáo viên vùng cao là nhân tố then chốt giúp duy trì sĩ số và đảm bảo quyền được học tập cho trẻ em nghèo miền núi.