Bỏ qua điều hướng
•

Cơ hội tái thiết kế nền giáo dục phổ thông

Cơ hội tái thiết kế nền giáo dục phổ thông
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Lần rà soát Chương trình giáo dục phổ thông 2018 này cần được nhìn nhận không chỉ như một công việc kỹ thuật mà là cơ hội tái thiết kế nền giáo dục phổ thông theo hướng rõ hơn, tinh gọn hơn, hiện đại hơn và công bằng hơn.

Sau một chu kỳ triển khai thực tế, việc rà soát Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (CT2018) cần được xem là cơ hội quan trọng để đánh giá lại toàn bộ logic của chương trình trên cơ sở những kết quả đã đạt được, những khó khăn nảy sinh trong thực tiễn và những thay đổi nhanh chóng của xã hội, khoa học công nghệ, thị trường lao động.

Mục tiêu rà soát vì vậy không nên chỉ dừng ở chỉnh sửa "sơ sơ" một số nội dung, điều chỉnh cách diễn đạt hoặc bổ sung một vài chủ đề mới. Quan trọng hơn, cần hướng tới một chương trình tường minh về chuẩn đầu ra, tinh gọn về nội dung, đồng bộ trong thiết kế, cập nhật và hiện đại, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển con người trong bối cảnh mới.

Từ thực tiễn triển khai CT2018, cần đặc biệt tập trung vào 3 trụ cột trung tâm.

Ban hành năng lực chuẩn quốc gia

Một trong những vấn đề căn bản cần được giải quyết trong lần rà soát này là xác định thật rõ học sinh (HS) VN cần đạt được những gì sau 12 năm giáo dục phổ thông.

Cơ hội tái thiết kế nền giáo dục phổ thông - Ảnh 1.

Lần rà soát chương trình giáo dục phổ thông hiện nay được kỳ vọng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển con người trong bối cảnh mới

ẢNH: NHẬT THỊNH

CT2018 đã xác định hệ thống phẩm chất, năng lực và yêu cầu cần đạt. Tuy nhiên, nếu chưa có một chuẩn đầu ra quốc gia được xác định và ban hành một cách tường minh thì hệ thống mục tiêu của chương trình vẫn khó trở thành điểm quy chiếu thống nhất. Chương trình không có chuẩn đầu ra rõ ràng cũng giống như con tàu ra biển nhưng chưa xác định được ngọn hải đăng cần hướng tới và chưa có một chiếc la bàn đủ chính xác.

Chuẩn đầu ra cần được diễn đạt thành những yêu cầu có thể quan sát, đo lường, đánh giá và phân biệt được mức độ phát triển qua các lớp học và từng bậc học. Đồng thời, chuẩn cần được xây dựng và ban hành đồng bộ với chương trình tổng thể và chương trình môn học, trở thành căn cứ thống nhất cho việc thiết kế nội dung, biên soạn sách giáo khoa (SGK), tổ chức dạy học và xây dựng các phương thức đánh giá.

Thực tế cho thấy hệ thống phẩm chất, năng lực và yêu cầu cần đạt hiện nay còn đứng trước một số vấn đề: mục tiêu nhiều; một số yêu cầu khó đo lường; có sự giao thoa, trùng lặp; mức độ phát triển giữa các lớp chưa thật sự rõ; và vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu được thể hiện trên văn bản với những gì diễn ra trong lớp học. Hệ quả là giáo viên có thể gặp khó khăn trong việc xác định dạy đến đâu là đủ, HS đạt đến đâu là đạt chuẩn; SGK có nguy cơ diễn giải chương trình theo những cách khác nhau; còn kiểm tra, đánh giá vẫn dễ quay trở lại cách tiếp cận truyền thống, thiên về kiểm tra kiến thức.

Vì vậy, chuẩn năng lực đầu ra quốc gia cần được xem là một "điểm neo" của toàn bộ CT2018.

Nguyên tắc 'ít hơn nhưng đồng bộ hơn'

Vấn đề sâu xa của tinh giản là tái phân bổ thời gian và nguồn lực giáo dục để HS thực sự được học theo cách phát triển năng lực.

CT2018 trong thực tế triển khai vẫn đang tạo sự nặng nề ở nhiều nơi. Tuy nhiên, nguyên nhân của quá tải không chỉ nằm ở lượng kiến thức nhiều, mà chính là việc chưa có đủ thời gian cho HS đọc hiểu, suy nghĩ, thực hành, trải nghiệm, thảo luận, hợp tác, giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Theo logic của giáo dục phát triển năng lực, kiến thức cần được lựa chọn ở mức đủ và thiết yếu, để dành thời gian cho HS học thông qua hoạt động và trải nghiệm.

Do đó, cần cân đối lại chương trình theo hướng dành nhiều thời gian học tập hơn cho đọc hiểu và giải quyết vấn đề, qua đó phát triển năng lực tự học; thực hành, thí nghiệm và trải nghiệm để hình thành năng lực vận dụng; thảo luận, hợp tác và dự án phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác và học tập xã hội; vận dụng kiến thức vào đời sống để hình thành khả năng học tập trong và từ cuộc sống.

Tinh giản không phải là học ít đi mà là học sâu hơn những điều thực sự cần thiết; không phải giảm yêu cầu đối với HS mà là tạo điều kiện để đạt được những yêu cầu quan trọng bằng những phương thức học tập hiệu quả hơn.

Cơ hội tái thiết kế nền giáo dục phổ thông - Ảnh 3.

Giáo dục phổ thông không chỉ chuẩn bị cho HS để thi, mà còn phải chuẩn bị cho các em để học tập suốt đời, làm việc và sống có trách nhiệm

ảnh: Nhật Thịnh


Cập nhật và hiện đại hóa chương trình

CT2018 thiết kế hướng cho tương lai không thể chỉ phản ánh những gì xã hội đang có, mà phải chuẩn bị cho HS những năng lực cần thiết để thích ứng với những thay đổi chưa từng có. Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc cách con người học tập, làm việc, giao tiếp, sáng tạo và tiếp cận tri thức.

Vì vậy, cập nhật chương trình trước thời đại số và AI không nên chỉ là bổ sung một vài bài học về AI hoặc chuyển đổi số. Cần xây dựng lộ trình năng lực số xuyên suốt 12 năm học, trong đó có các thành tố cơ bản như: an toàn và bảo mật số; tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá thông tin; hiểu biết và sử dụng dữ liệu; tư duy máy tính; thuật toán và tư duy logic; hiểu biết về AI; sử dụng AI tạo sinh; kiểm chứng thông tin và nhận diện thông tin sai lệch; bản quyền và sở hữu trí tuệ; đạo đức số; trách nhiệm cá nhân và xã hội khi sử dụng AI. Đặc biệt, cần xác định rõ AI không đơn thuần là một nội dung kiến thức mới để đưa thêm vào chương trình mà là công cụ mới có khả năng làm thay đổi cách học, cách làm việc và cách đánh giá.

Điều quan trọng không phải là làm thế nào để có một bộ SGK giống nhau trên toàn quốc, mà là làm thế nào để bảo đảm mọi HS VN, dù học ở đâu, đều được tiếp cận một nền giáo dục có chuẩn mực quốc gia tối thiểu, rõ ràng, nội dung tinh gọn, kiến thức nền tảng vững chắc, những năng lực thiết yếu phù hợp với thời đại và cơ hội phát triển công bằng.

Đưa những năng lực thiết yếu của đời sống vào vị trí thích đáng

Giáo dục phổ thông không chỉ chuẩn bị cho HS để thi, mà còn phải chuẩn bị cho các em để học tập suốt đời, làm việc và sống có trách nhiệm.

Vì vậy, cần xem xét một cách có hệ thống vị trí của những nội dung và năng lực thiết yếu đối với đời sống hiện đại, như: giáo dục pháp luật; tài chính cá nhân; sức khỏe thể chất và tinh thần; an toàn trên môi trường mạng; môi trường và biến đổi khí hậu; định hướng nghề nghiệp và kỹ năng nghề nghiệp; giao tiếp và hợp tác; quản lý thời gian; trách nhiệm công dân.

Điều này không có nghĩa là tiếp tục bổ sung thật nhiều nội dung vào chương trình. Hướng phù hợp hơn là tích hợp các năng lực nói trên vào những môn học và hoạt động giáo dục hiện có, tăng cường dạy học tích hợp, liên môn và học tập gắn với thực tiễn. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu những vấn đề có tính hệ thống như tổ chức dạy học ở giai đoạn định hướng nghề nghiệp, giáo dục nghề nghiệp trong trường phổ thông và ngay cả việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục VN.

Rà soát CT2018 và chuẩn bị SGK dùng chung là cơ hội quan trọng để chúng ta chuyển từ tư duy "viết lại SGK" sang tư duy "thiết kế lại trải nghiệm giáo dục 12 năm của học sinh". Điểm cần đặc biệt lưu ý là không nên bắt đầu từ SGK. Trình tự hợp lý cần là: Xác định chuẩn đầu ra  xác định kiến thức cốt lõi  lập bản đồ phát triển  tinh giản chương trình  thiết kế đánh giá  xác định cấu trúc SGK  biên soạn SGK. Nếu đảo ngược trình tự, bắt đầu từ việc viết sách rồi mới quay trở lại xác định mục tiêu và chuẩn đầu ra, chúng ta rất dễ tiếp tục rơi vào tình trạng chương trình bị chi phối bởi SGK.

Sau một chu kỳ triển khai thực tế, đợt rà soát Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đang mở ra cơ hội quan trọng để đánh giá lại toàn bộ logic vận hành và tái thiết kế nền tảng giáo dục. Quá trình này không thể dừng lại ở việc chỉnh sửa kỹ thuật hay bổ sung cơ học một vài chủ đề mới. Mục tiêu cốt lõi là hướng tới một chương trình tường minh về chuẩn đầu ra, tinh gọn về nội dung và thích ứng linh hoạt trước những biến động nhanh chóng của xã hội, khoa học công nghệ cùng thị trường lao động. Nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu là nhanh chóng xác định và ban hành khung chuẩn năng lực đầu ra quốc gia dành cho học sinh sau 12 năm học. Hệ thống phẩm chất và năng lực hiện nay vẫn tồn tại nhiều mục tiêu trừu tượng, khó đo lường và có sự trùng lặp giữa các cấp học. Thiếu vắng một điểm quy chiếu chuẩn xác sẽ khiến giáo viên lúng túng trong giảng dạy, việc biên soạn sách giáo khoa dễ phát sinh dị biệt, còn công tác kiểm tra đánh giá lại có nguy cơ quay về lối mòn kiểm tra kiến thức đơn thuần. Bên cạnh đó, việc tinh giản chương trình cần được thực hiện dựa trên nguyên tắc ít hơn nhưng đồng bộ hơn. Bản chất của quá tải trong triển khai không chỉ bắt nguồn từ khối lượng kiến thức, mà chủ yếu do thiếu hụt quỹ thời gian dành cho học sinh đọc hiểu, suy ngẫm và rèn luyện kỹ năng thực tế. Tái phân bổ hợp lý nguồn lực giáo dục chính là điều kiện tiên quyết để việc phát triển năng lực người học đạt được hiệu quả thực chất và bền vững.
amung