Bỏ qua điều hướng

'Cơm cấy', người nông dân miền Tây hít hà: Ăn cơm ngoài ruộng nó ngon gì đâu

'Cơm cấy', người nông dân miền Tây hít hà: Ăn cơm ngoài ruộng nó ngon gì đâu
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Mấy đứa nhỏ nghe được, lập tức ngây ngô, 'vậy nhà mình nấu cơm rồi đem ra ruộng ngồi ăn', chứ không biết 'cơm cấy' ngon bởi vì ở đâu và dù rất lâu người ăn vẫn nhớ.

Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 1.

Một bữa cơm cấy đơn sơ bên bờ ruộng của nông dân tỉnh Cà Mau - Ảnh: PHAN THANH CƯỜNG

Nét văn hóa đặc trưng của nông dân miền Tây là gia chủ bao cơm cho người nhận làm việc, dù người đó làm vần công hay là người làm thuê.

"Cơm cày cơm cấy, ai thấy thì ăn"

Đó là những bữa ăn đạm bạc, được đem lên ruộng, mang tính "dã chiến", ăn vội để còn đi cấy, hay làm việc nói chung của những người nông dân lao động ngoài đồng.

Trước đây, ở vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long, người nông dân trồng lúa bằng cách gieo mạ, mạ đủ ngày tuổi thì nhổ lên, rồi đem qua ruộng khác cấy.

Ông Lê Đức Chí, ngụ ở Cà Mau, kể: "Hồi trước cậu tôi có hơn trăm công ruộng, những bà cô là người Khmer ở gần thường tới nhà lãnh công cấy sớm. Mỗi người lãnh cả chục công. Họ nhận tiền trước rồi tới mùa thì tới cấy trả công.

Khi đó tôi là người đi đem cơm ra cho "thợ cấy" ăn, gọi là "cơm cấy". Các cô các chú tất bật, kẻ nhổ mạ, người cấy ngoài đồng. Đêm nào có trăng thì có khi họ làm từ 2h, 3h sáng. Khi mặt trời lên, nắng nóng lưng là đã cấy rồi công. Ban ngày khi nắng hay mưa quá thì nghỉ bù.

Hồi đó mợ tôi cũng thức sớm, nấu cơm cho hàng chục người ăn. Chừng mặt trời vừa lên là mợ giở cơm, để lên chiếc xuồng nhỏ cho tôi kéo cơm lên ruộng. Nhà nào không có xuồng thì lấy thúng hay giỏ xách để đựng cả mâm cơm. Có nhà thì sáng tạo bằng cách làm 2 cái gióng để gánh bữa ăn và chén đũa lên ruộng".

Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 2.
Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 3.
Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 4.
Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 5.

Vài công đoạn trồng lúa của người nông dân Nam Bộ trước đây: ngâm hạt giống cho ra mộng (mầm), gieo mạ, nhổ mạ và đem đi cấy - Ảnh: NGÔ HOÀNG VŨ

Mộc mạc bữa cơm bờ ruộng

Bữa ăn dã chiến mà, đâu có sơn hào hải vị. Ăn xong còn nghỉ ngơi chút, hoặc tranh thủ làm tiếp, xong việc sớm thì về sớm. Vì vậy nơi dọn cơm là bờ ruộng, gốc cây, hay bờ đìa. Các món ăn lần lượt bày ra trên lá chuối, cái bao hay nắp thùng, mà đôi khi cũng chẳng cần bất cứ thứ gì, có ăn là được.

"Có khi đồng xa, bờ ruộng có chiều ngang nhỏ quá, và nơi ruộng lung (trũng sâu), khi đó cơm được dọn trên bờ, người ăn phải đứng dưới nước", ông Chí chia sẻ.

Khi ông Chí đem cơm lên tới ruộng thì mọi người cũng í ới, kêu nhau rửa tay lên ăn cơm.

Thức ăn dọn ra thường chừng vài ba món, có gì ăn đó. Giữa gia chủ và người làm hiếm khi so đo về việc cho ăn món gì. Trong đó thường có món ăn nêm vị mặn, ngụ ý là để ăn cho "chắc" bụng. Thực ra người làm việc nặng thường ra mồ hôi nhiều, ăn nhiều muối sẽ bù khoáng, đỡ mất nước.

Vì vậy các món ăn thường là: mắm chưng, mắm kho, cá kho, khô các loại, tép rang mặn, rau luộc, trứng chiên xá bấu, canh rau tập tàng… Có khi mấy người đàn ông vừa nhổ mạ vừa bắt được con cá lóc, hay con rắn dưới ruộng, thì đem lên nướng bằng rơm, bằng cỏ khô.

Mấy cô thì có khi hái vội được nắm rau dừa, rau muống, bông súng hay rau đắng quanh đó. Rửa rau, rồi chấm mắm luôn. Góp cho những đũa cơm ngọt lịm… quyện giữa mùi bùn đất lắm lem quần áo, mùi mạ, hay mùi lúa chín.

Đôi khi bữa ăn chỉ là nồi cơm nếp đậu, rắc thêm muối mè, hay rắc muối đậu phộng.

Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 6.

Cảnh nướng cá trên đồng để cải thiện thức ăn cho bữa cơm cấy - Ảnh: AI tạo

Vị ngon cơm cấy có từ đâu?

Bữa ăn vậy đó mà ai cũng tắm tắc khen ngon. Không chỉ ngon lúc ăn mà tận nhiều năm sau, khi nhắc lại, người tham gia cơm cấy ngày đó vẫn khen ngon, dù "tôi cũng không biết vì sao ngon!".

Ông Hàn Ái Tiến, cựu Tổng biên tập báo Bạc Liêu, lý giải: "Bà con nông dân phải thức dậy từ khuya hoặc sáng sớm, di chuyển ra ruộng, có khi đi rất xa. Sau đó làm việc nặng nhọc nhiều giờ liền.

Tới khi cơm được đem lên là lúc rất đói. Hơn nữa, bữa ăn lại rất vui, có khi đông tới một, hai chục người, nói cười xôm tụ. Ăn dã chiến giữa đồng nên khung cảnh cũng khác với ở nhà. Trong đó có cả cái tình chòm xóm, cùng làm cùng ăn, cùng ngắm thành quả trên đồng nên rất vui. Cảm giác ngon có lẽ bắt nguồn đó".

Hiện nay lao động miền Tây có sự dịch chuyển lên các thành phố, cảnh cơm cấy với số lượng người đông cũng hiếm lại. Thay vào đó, mỗi nhà tự sắp xếp việc, hoặc khi thuê người làm thì gia chủ cũng khoán luôn phần tiền ăn.

Giao kèo như vậy, người làm thuê thấy tiện lợi hơn vì tự do gói ghém bữa ăn. Còn người chủ cũng nhàn hơn vì không cần nấu cơm cấy. Người lao động miền Tây vẫn giở cơm đem theo khi đi ruộng vườn, nhưng quy mô nhỏ hơn.

"Hình ảnh cơm cấy nhắc nhớ về một vùng đất trù phú nhưng cũng đầy khắc nghiệt, nơi con người ta biết nương tựa vào nhau, biết tìm thấy niềm vui trong gian khó. Đó là nét đẹp lao động và sự phóng khoáng của tình người đất phương Nam. Và nét đẹp ấy được giữ nguyên vẹn trong từng nhịp sống ở vùng đồng bằng sông nước", ông Hàn Ái Tiến nói.

Bữa ăn nông dân miền Tây và Nét văn hóa độc đáo của cơm cấy - Ảnh 7.Người miền Tây 'nhờ qua nhà khiêng giùm cái tủ', dụng ý gì?

'Nhờ khiêng cái tủ' - ấy là tuyệt chiêu mời nhậu tinh tế của người miền Tây, cũng là nét văn hóa tình nghĩa xóm giềng có nhau, vừa nắm phần chắc không lo bị từ chối, vừa tạo cảm giác vui vì lừa được người kia qua nhà giúp. Người giúp cũng thấy vui vẻ.

Văn hóa “cơm cấy” bên bờ ruộng từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt đặc trưng, gắn liền với phương thức sản xuất lúa nước truyền thống của nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Theo lời kể của ông Lê Đức Chí tại Cà Mau, những bữa ăn dã chiến này do chính gia chủ chuẩn bị để phục vụ lực lượng nhổ mạ, trả công cấy từ tinh mờ sáng. Dù vận chuyển bằng xuồng nhỏ, thúng mâm hay gióng gánh, cơm cấy luôn đại diện cho tinh thần chia sẻ “ai thấy thì ăn” giữa chủ nhà và người làm thuê mà không hề so đo, tính toán. Nơi dọn cơm thường tận dụng ngay bờ ruộng, gốc cây hoặc bờ đìa, nơi người lao động tạm gác tay cấy để tiếp thêm năng lượng cho buổi làm việc vất vả. Thực đơn phổ biến là các món ăn đậm vị mặn như mắm chưng, cá kho, tép rang, trứng chiên xá bấu cùng các loại rau dại hái vội quanh đồng. Việc ưu tiên các món mặn nêm nếm đậm đà không chỉ giúp nông dân “chắc bụng” mà còn là giải pháp bù khoáng và bù nước tự nhiên hiệu quả sau những giờ lao động nặng nhọc dưới nắng mưa. Bên cạnh yếu tố dinh dưỡng, bữa cơm dã chiến còn ghi dấu sự hòa quyện giữa hương vị ẩm thực mộc mạc với mùi bùn đất và mùi mạ non ngát thơm. Những sản vật đánh bắt trực tiếp tại ruộng như cá lóc hay rắn nướng rơm đã góp phần thắt chặt tình làng nghĩa xóm trong những mùa vụ hối hả. Dù hình thức gieo cấy xưa kia dần thay đổi theo thời gian, ký ức về bữa cơm cấy vẫn đọng lại như một di sản ký ức đậm đà tính nhân văn của văn minh lúa nước Nam Bộ.