Bỏ qua điều hướng
•

Công nghệ cao mở hướng phát triển nông nghiệp xanh

Công nghệ cao mở hướng phát triển nông nghiệp xanh
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Tại tỉnh Tuyên Quang, công nghệ đang được ứng dụng ngày càng rộng trong sản xuất nông nghiệp, từ theo dõi cây trồng, vật nuôi đến quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Những cách làm mới đã giúp người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nâng hiệu quả sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thị trường và từng bước phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững.

Dự án chăn nuôi và chế biến sữa công nghệ cao do Công ty TNHH Trang trại bò sữa công nghệ cao Hà Giang đầu tư, với tổng vốn 2.218 tỷ đồng, đang hoàn thiện những khâu chuẩn bị để đưa vào hoạt động trong tháng 10. Hệ thống chuồng trại đã sẵn sàng đón lô bò đầu tiên khoảng 400 con. Đây là một trong những dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ quy mô lớn trên địa bàn tỉnh.

Ông Trần Đình Tuệ, Tổng Giám đốc công ty cho biết, dự án đặt mục tiêu nâng quy mô đàn bò lên 10.000 con vào năm 2027-2028, sản lượng sữa dự kiến đạt khoảng 49.000 tấn mỗi năm. Theo ông Tuệ, chăn nuôi quy mô lớn đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ từ thức ăn, sức khỏe đàn bò đến chất lượng môi trường. Vì vậy, công nghệ được đầu tư đồng bộ ngay từ đầu, thay vì chỉ ứng dụng ở một vài công đoạn. Do đó, dự án sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hàng đầu như phần mềm quản lý đàn bò Afifarm của Israel, quy trình thú y từ New Zealand, hệ thống xử lý nước và chất thải từ Nhật Bản, Hà Lan kết hợp đệm lót sinh học giúp xử lý triệt để chất thải ngay tại chuồng.

Dự án bò sữa cho thấy hướng đầu tư công nghệ ở quy mô lớn, còn mô hình của Hợp tác xã Sản xuất chế biến thực phẩm an toàn Sáng Nhung, xã Đông Thọ đổi mới từ thực tiễn ngay tại các cơ sở chăn nuôi. Với khoảng 3.500 con gia súc và 10.000 con gia cầm, hợp tác xã phải theo dõi thường xuyên điều kiện chuồng nuôi, nguồn thức ăn, nước uống và công tác xử lý chất thải.

Ông Nguyễn Ngọc Sáng, Giám đốc Hợp tác xã cho biết, trang trại đã lắp đặt camera giám sát, hệ thống kiểm soát thức ăn tự động, thiết bị theo dõi môi trường, máy tách phân và hệ thống xử lý nước thải. Thông số về nhiệt độ, độ ẩm, nguồn nước được cập nhật để người quản lý kiểm tra qua điện thoại thông minh, kể cả khi không có mặt tại trang trại.

“Với đàn vật nuôi đông, chỉ kiểm tra bằng cách thủ công rất khó nắm bắt kịp thời những biến động trong chuồng nuôi. Các thiết bị giúp chúng tôi theo dõi sát hơn, điều chỉnh việc chăm sóc và hạn chế nguy cơ dịch bệnh. Hợp tác xã cũng đã sử dụng mã QR để hỗ trợ khách hàng tìm hiểu thông tin về quy trình sản xuất. Việc ghi nhận, công khai thông tin góp phần tạo niềm tin với người mua, đồng thời đặt ra yêu cầu duy trì chất lượng sản phẩm qua từng lứa nuôi”, ông Sáng chia sẻ.

Trong lĩnh vực trồng trọt, người dân trên địa bàn tỉnh đã từng bước sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học; tận dụng phụ phẩm để ủ phân hữu cơ, trồng cây che phủ đất và luân canh nhằm hạn chế sâu bệnh. Một số cơ sở đầu tư nhà màng, hệ thống tưới tự động, dùng ứng dụng số hỗ trợ theo dõi và chăm sóc cây trồng.

Những giải pháp này giúp kiểm soát tốt hơn lượng nước, vật tư sử dụng trong sản xuất. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả, người trồng phải nắm vững kỹ thuật và duy trì quy trình trong suốt vụ sản xuất. Thiết bị hiện đại không thể thay thế việc theo dõi thực tế đồng ruộng, nhất là khi thời tiết, sâu bệnh thay đổi.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, Tuyên Quang hiện có hơn 100.000 ha cây trồng, rừng sản xuất theo các tiêu chuẩn. Trong đó, 96.500 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC; khoảng 4.300 ha cây công nghiệp, cây trồng hàng hóa sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ. Nhiều trang trại đang áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn, hướng tới giảm phát thải. Nguồn nguyên liệu đạt chuẩn này không chỉ gia tăng giá trị kinh tế trực tiếp cho ngành nông nghiệp, mà còn kích thích công nghiệp phụ trợ, thương mại xanh cùng phát triển.

Đồng chí Nguyễn Xuân Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết, ngành sẽ tiếp tục phối hợp các địa phương xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chú trọng cây ăn quả hữu cơ, chăn nuôi và thủy sản sạch. Nông dân được hướng dẫn ứng dụng công nghệ mới, tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm, tăng sử dụng chế phẩm sinh học và vật tư hữu cơ để giảm phụ thuộc vào hóa chất.

Để phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao, ngành đang tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh có các chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và xúc tiến thương mại; đồng thời chú trọng đào tạo kỹ năng sản xuất bền vững, sử dụng tiết kiệm tài nguyên cho nông dân. Doanh nghiệp và hợp tác xã được khuyến khích tham gia liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản địa phương.

Tỉnh cũng định hướng xây dựng vùng sản xuất thông minh gắn với hạ tầng logistics; từng bước ứng dụng công nghệ trong canh tác, giám sát môi trường và truy xuất nguồn gốc. Sự liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu sẽ góp phần hình thành chuỗi cung ứng nông sản an toàn, thúc đẩy tiêu dùng xanh và bảo vệ môi trường.

Bài, ảnh: HẢI CHUNG và ĐỨC THẮNG

Ứng dụng công nghệ cao đang tạo ra bước chuyển mình quan trọng cho ngành nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang, hướng tới mô hình sản xuất xanh và phát triển bền vững. Điển hình là Dự án chăn nuôi và chế biến sữa công nghệ cao do Công ty TNHH Trang trại bò sữa công nghệ cao Hà Giang đầu tư tại Tuyên Quang với tổng vốn 2.218 tỷ đồng, dự kiến đi vào hoạt động từ tháng 10. Dự án đặt mục tiêu phát triển quy mô đàn bò lên 10.000 con vào giai đoạn 2027-2028, đạt sản lượng 49.000 tấn sữa mỗi năm nhờ tích hợp đồng bộ công nghĩa Afifarm của Israel, quy trình thú y New Zealand cùng hệ thống xử lý chất thải hiện đại từ Nhật Bản và Hà Lan. Song song với các dự án quy mô lớn, nhiều hợp tác xã và hộ sản xuất tại địa phương cũng chủ động đổi mới công nghệ từ thực tiễn sản xuất. Hợp tác xã Sản xuất chế biến thực phẩm an toàn Sáng Nhung hiện duy trì quy mô 3.500 con gia súc và 10.000 con gia cầm thông qua hệ thống camera giám sát, kiểm soát thức ăn tự động cùng máy tách phân và xử lý nước thải. Việc cập nhật các thông số môi trường qua điện thoại thông minh giúp ban quản lý giám sát trang trại từ xa, kịp thời điều chỉnh quy trình chăm sóc và hạn chế tối đa rủi ro dịch bệnh. Bên cạnh đó, hợp tác xã đã triển khai dán mã QR truy xuất nguồn gốc, góp phần minh bạch hóa quy trình và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng. Trong lĩnh vực trồng trọt, tư duy canh tác của người dân từng bước dịch chuyển sang hướng sinh học và tuần hoàn nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất. Các giải pháp như sử dụng phân bón sinh học, tận dụng phụ phẩm ủ phân hữu cơ, trồng cây che phủ kết hợp ứng dụng nhà màng và hệ thống tưới tự động đã giúp kiểm soát hiệu quả lượng nước cũng như vật tư nông nghiệp. Tuy vậy, việc vận hành các thiết bị hiện đại vẫn đòi hỏi người nông dân phải nắm vững kỹ thuật và duy trì sự kiểm sát thực tế đồng ruộng để ứng phó kịp thời trước những biến động của thời tiết.