Một buổi chiều giữa tháng 9.2026, trong căn nhà nhỏ nép mình trên đường Hoàng Văn Thụ (quận Tân Bình cũ, TP.HCM), chúng tôi có dịp trò chuyện cùng bà Nguyễn Thị Phương (74 tuổi). Ngược dòng ký ức, bà từng công tác văn thư của Bộ Tư lệnh Tiền phương Sài Gòn - Gia Định, có nhiệm vụ chắp bút và bảo vệ những bức "mật thư không hiện hình" quan trọng của cách mạng.
Hành trình trở thành Biệt động Sài Gòn
Bà Phương sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, có bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng. Nhìn các cô, các chú lần lượt lên đường, cô thiếu nữ 15 tuổi quyết định rời Campuchia vào chiến trường miền Nam.
Bà đóng giả khách du lịch, đón xe đò về vùng giáp biên giới. Chập choạng tối, cô gái 15 tuổi hòa vào dòng người lặng lẽ băng rừng.
"Không nhớ ngày nhớ đêm gì hết, cứ cắm mặt mà đi. Chân cẳng sưng phù, rớm máu, té lên té xuống vì kiệt sức. Nhưng nhìn đoàn người phía trước lầm lũi bước, tôi lại cắn răng đi theo cho kịp", bà Phương bồi hồi nhớ lại.

Bà Phương bồi hồi nhớ lại quyết định xin tham gia cách mạng năm 15 tuổi
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Cuối năm 1967, bà nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí và cáng thương binh chuẩn bị cho Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại cửa ngõ Bình Chánh.
Chiến trường dội vào cô gái thành thị những khắc nghiệt chưa từng hình dung: "Tôi ở thành phố làm gì có đỉa! Lần đầu bị cắn, máu me đầm đìa, tôi cứ cắm đầu chạy rồi trượt ngã nhào xuống bùn. Nhưng vì chiến trường cần đạn, phải gạt nước mắt mà bước tiếp", bà kể.
Đợt cao điểm năm 1968, nhiều đồng đội hy sinh ngay trên đường hành quân, bà nói: "Sợ chứ, chân run rẩy chứ. Nhưng nhớ lời mẹ dặn 'đã đi là phải đi tới cùng', tôi nuốt sợ hãi vào lòng để đi tiếp", bà Phương nói.

Những tấm ảnh thời trẻ hiếm hoi của bà Phương cùng đồng đội được cất giữ cẩn thận
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Những bức mật thư không hiện hình
Sau Chiến dịch Mậu Thân 1968, bà Phương được điều về cơ quan đầu não của Bộ Chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Trong điều kiện chiến trường ác liệt, người ít việc nhiều, bà làm nhiều công việc: đánh máy, làm chị nuôi, canh và phóng to bản đồ tác chiến theo đúng tỉ lệ, dẫn đường cho cán bộ qua chốt.
Đến năm 1971, bà hoạt động tại Bộ Chỉ huy Quân khu ở căn cứ Củ Chi và được giao nhiệm vụ viết mật thư để giao liên chuyển vào nội đô.

Bà Phương cho biết, giấy dùng để viết mật thư thường là giấy dầu, dễ dàng ngụy trang thành giấy gói đồ thông thường để các giao liên mang theo
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Bà kể, trước năm 1969 mật thư chủ yếu được viết bằng chữ li ti trên giấy mỏng, cuộn chặt bằng ngón tay út rồi bọc băng keo để giao liên giấu vào lai áo, nẹp nón lá. Có nơi dùng nước cơm chấm ngòi tre để viết, nhưng cách này dễ đổi màu khi gặp thời tiết ẩm.
Từ năm 1969, loại hóa chất mật thư gồm 2 dung dịch màu vàng nhạt như nước trà được đưa vào sử dụng. Khi viết xong, tờ giấy không có dấu vết. Chỉ khi người nhận dùng "nước mở mực" bôi lên, từng dòng chữ mới hiện ra.

Khi tiếp xúc với "nước mở mực", dòng chữ chứa mật lệnh dần dần hiện ra
ẢNH: HÀ THƯƠNG
"Viết mật thư chỉ được làm vào ban đêm dưới hầm tránh pháo, thắp ngọn đèn dầu hạt đỗ le lói để không lọt ánh sáng. Ngòi bút lướt trên giấy hoàn toàn vô hình. Tôi phải nghiêng người theo bóng đèn, căng mắt nhìn theo vệt ướt mờ mờ để canh từng con chữ, từng dòng kẻ sao cho không chồng lên nhau", bà Phương nhớ lại.
Theo bà, nếu nét chữ đè lên nhau, khi quét nước mở mực, nội dung sẽ lem nhem, không đọc được mệnh lệnh. Vì vậy, mỗi nét bút đều phải chính xác, kiên nhẫn và tuyệt đối bí mật.

Hai loại nước bà Phương từng dùng để viết mật thư tàng hình được lưu giữ tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định
ẢNH: VŨ BÌNH
Loại giấy dùng để viết mật thư thường là giấy dầu màu sẫm. Khi vệt ướt khô đi, bề mặt giấy trở lại phẳng phiu như giấy gói đồ bình thường. Các giao liên dùng chính tờ giấy ấy để bọc ổ bánh mì, gói thuốc Bắc hoặc gói quà quê, qua mắt sự kiểm soát của đối phương.
"Công việc của tôi kín kẽ đến mức nhiều người trong Bộ Chỉ huy lúc bấy giờ cũng chỉ biết tôi đánh máy, nhập tài liệu, chứ không biết tôi là người viết những bức thư mật tàng hình", bà Phương bộc bạch.

Bà Phương cẩn thận tái hiện lại bức thư tàng hình
ẢNH: HÀ THƯƠNG
2 lần cận kề cái chết
Bà Phương kể, điều khiến bà ám ảnh nhất trong những năm tháng tham gia cách mạng là 2 lần cận kề cửa tử.
Lần thứ nhất là trong chuyến công tác cơ mật cùng Thiếu tướng Trần Hải Phụng (bí danh Hai Phụng, ông nổi vai trò Tư lệnh kiêm Bí thư Phân khu 6 (nội đô Sài Gòn) kiêm Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định) bằng xuồng máy giữa đêm. Nước tràn vào làm xuồng lật úp giữa dòng. Những người khác thạo sông nước nên bơi được vào bờ, riêng bà Phương không biết bơi, chìm nghỉm giữa màn đêm.
Bên mình bà khi ấy là ba lô đựng tài liệu cơ mật của chỉ huy. "Nước ùa vào miệng sặc sụa, chiếc máy cứ kéo chìm xuống đáy sâu, nhưng tôi nghĩ: chết cũng không buông tài liệu", bà nhớ như in.
May mắn, chiếc máy đẩy sau đuôi xuồng tự tuột ra, chiếc xuồng nổi lên. Khi đồng đội quay ra kéo xuồng vào, họ sững sờ thấy cô gái nhỏ vẫn bám chặt mạn thuyền, người tím tái vì ngạt nước, nhưng ba lô tài liệu vẫn còn nguyên.

Kỷ niệm chương cùng các huân chương kháng chiến được bà Phương trưng bày trong tủ
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Lần thứ hai, trong một trận càn ở Bến Tre, bà bị lính địch bắt khi đang lánh vào nhà một bà má ngoài 80 tuổi. Biết hầm bí mật của tướng Trần Hải Phụng chỉ cách đó vài trăm mét, bà cắn răng chịu tra hỏi, nhất quyết không hé lộ điều gì.
"Lúc đối mặt với súng đạn hay đòn roi, trong đầu tôi không có khái niệm sợ chết. Chỉ nghĩ đơn giản: sinh mệnh của đồng đội, của chỉ huy đang nằm cả trong miệng mình. Thà mình chết chứ tuyệt đối không thể để mất bí mật", bà Phương nói.

Bức ảnh bà Phương chụp để làm giấy tờ giả, phục vụ cho các chuyến công tác xa
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Đi qua khói lửa chiến tranh, nữ Biệt động Sài Gòn năm xưa nay trở về với đời sống bình dị bên con cháu, thỉnh thoảng gặp lại đồng đội cũ. Những bức mật thư tàng hình đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, nhưng ký ức về chúng vẫn còn nguyên vẹn trong lời kể của người phụ nữ từng âm thầm giữ mạch liên lạc giữa lòng địch.