Bỏ qua điều hướng
•

Đại học thời trí tuệ nhân tạo: Phải đổi cách đào tạo

Đại học thời trí tuệ nhân tạo: Phải đổi cách đào tạo
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Xe tự hành cần kỹ sư xử lý dữ liệu và vận hành hệ thống; doanh nghiệp cần sinh viên bước vào dự án mà không mất quá lâu để làm quen… Tại Diễn đàn hợp tác nhà trường - doanh nghiệp năm 2026 ở TPHCM ngày 28/9, những yêu cầu ấy đặt ra câu hỏi cho đại học thời AI: chương trình học thay đổi nhanh đến đâu...

Chương trình đào tạo khó theo kịp

Từ thực tế phát triển xe tự hành, ông Đinh Vĩnh Cường, Chủ tịch Tập đoàn 365 Group, mô tả một phương tiện không có người cầm lái vẫn cần cả đội ngũ phía sau. Xe phải nhận biết vật cản qua camera, radar và cảm biến; di chuyển theo bản đồ được cập nhật; kết nối với trung tâm điều hành và hạ tầng sạc.

Mỗi khâu đó đòi hỏi những kỹ năng khác nhau, từ AI, cơ khí, phần mềm đến an ninh mạng. Theo ông Cường, doanh nghiệp cần kỹ sư xử lý dữ liệu cảm biến để phương tiện nhận biết môi trường, kỹ sư xây dựng bản đồ và mô phỏng, kỹ sư hệ thống nhúng, robot cùng nhân sự hiểu về pháp lý công nghệ. Đây là những công việc khó gói gọn trong một ngành học truyền thống.

6b.jpg
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Nguyễn Dũng

“Chúng tôi thiếu kỹ sư vận hành, không phải người lái xe”, đại diện doanh nghiệp nêu vấn đề. Theo ông Cường, khi công nghệ thay đổi cách vận hành phương tiện, nhu cầu tuyển dụng cũng dịch chuyển. Một người học thuần túy cơ khí hoặc phần mềm có thể chưa đủ để xử lý toàn bộ bài toán của hệ thống tự hành.

Từ đó, đại diện 365 Group đề xuất các trường tăng đào tạo liên ngành, tích hợp AI, robot và thị giác máy tính; đồng thời chú trọng hạ tầng năng lượng xanh như pin, trạm sạc thông minh… Doanh nghiệp cũng mong người học có ngoại ngữ để tiếp cận tài liệu kỹ thuật quốc tế.

Sẽ công bố tỷ lệ sinh viên có việc làm thực chất sau tốt nghiệp

Thứ trưởng Bộ GD&ÐT Lê Quân lưu ý các trường đại học cần kiên quyết đoạn tuyệt với tư duy chạy theo quy mô diện tích sàn hay số lượng tuyển sinh cơ học. Thời gian tới, Bộ GD&ÐT sẽ phối hợp cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để rà soát, công bố chính xác tỷ lệ sinh viên có việc làm thực chất sau tốt nghiệp.

Song song đó, chuẩn đầu ra ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai) sẽ được siết chặt để đảm bảo sinh viên Việt Nam đủ năng lực cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu.

Câu chuyện máy bay không người lái trong nông nghiệp được ông Cường đưa ra như một ví dụ khác. Thiết bị đã đi vào sử dụng, nhưng theo đại diện doanh nghiệp, việc đào tạo và xác nhận năng lực người vận hành vẫn là vấn đề cần được làm rõ. Công nghệ có thể được đưa vào thực tế nhanh hơn tốc độ hình thành chương trình đào tạo tương ứng.

6a.jpg
Sinh viên khoa cơ khí một trường đại học thực tập tại doanh nghiệp. Ảnh: Nguyễn Dũng

Tuy nhiên, đặt hàng ngành nghề mới chỉ là một phía của bài toán. Ông Cường cho biết, doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận và đầu tư đào tạo sinh viên có năng lực, song cũng gặp trường hợp người học đến thực tập chủ yếu để lấy xác nhận. Theo ông, muốn hợp tác hiệu quả, trường cần tìm hiểu doanh nghiệp đang làm gì để đưa đúng sinh viên đến đúng vị trí, với nhiệm vụ học tập rõ ràng.

Ðưa AI vào lớp chưa đủ, phải đổi cả cách học

PGS.TS Nguyễn Hữu Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC, cho rằng, rào cản lớn không nằm ở việc trường có sử dụng AI hay không, mà ở cách tổ chức dạy và học. Nếu giảng viên dùng AI ra đề, sinh viên dùng AI trả lời, còn phương pháp đánh giá vẫn như cũ, công cụ có thể tham gia vào mọi công đoạn nhưng năng lực người học chưa chắc được cải thiện.

Theo ông Quỳnh, khi AI có thể hỗ trợ tìm kiếm, giải thích và tổng hợp kiến thức, đại học cần dành nhiều thời gian hơn cho khả năng nhận diện vấn đề, kiểm tra thông tin, tìm lời giải và thực hiện công việc đến cùng. Vai trò của giảng viên cũng thay đổi: hướng dẫn sinh viên xử lý những điểm chưa rõ, phân tích tình huống và làm dự án, thay vì chỉ truyền đạt nội dung trên lớp.

Trường Đại học CMC cho biết đã ứng dụng hệ sinh thái học tập số vào hơn 150 học phần và 500 lớp. Theo mô hình được nhà trường giới thiệu, sinh viên chuẩn bị kiến thức trước ở nhà; thời gian trên lớp tập trung thảo luận, giải quyết vấn đề và thực hiện dự án. Trường cũng hướng tới việc để sinh viên tham gia công việc tại doanh nghiệp với nhiệm vụ, thời hạn và yêu cầu kết quả cụ thể.

Tuy nhiên, đưa sinh viên ra doanh nghiệp không đồng nghĩa mọi kỳ thực tập đều tạo ra trải nghiệm tốt. PGS.TS Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang, cho biết, khi quy mô người học lớn, trường phải tổ chức thực tập theo nhiều chặng: từ tìm hiểu nghề nghiệp, thực hành một phần công việc đến thực tập tốt nghiệp. Sinh viên cần có giảng viên đồng hành và tiêu chí đánh giá để quá trình này không trở thành một khoảng thời gian tự xoay xở tại doanh nghiệp.

Theo bà Diệu, mỗi doanh nghiệp thường chỉ có thể hướng dẫn tốt một nhóm nhỏ sinh viên trong cùng đợt. Vì vậy, trường phải xây dựng mạng lưới đối tác đủ rộng, đồng thời xác định người học đến doanh nghiệp để làm gì. Bà cũng nhấn mạnh nhu cầu nhận từ doanh nghiệp những “bài toán thật”, dữ liệu thật và điều kiện thực hành thật để đưa vào học tập, nghiên cứu.

Một đề bài có thể được tiếp cận từ nhiều ngành: sinh viên kỹ thuật giải quyết phần công nghệ, sinh viên kinh doanh tìm cách triển khai, còn nhóm truyền thông nghiên cứu cách tiếp cận người dùng. Theo bà Diệu, những vấn đề thực tế ấy không chỉ giúp sinh viên học, mà còn giúp giảng viên xác định nghiên cứu của mình có thể giải quyết nhu cầu nào của xã hội.

Một ví dụ về đào tạo gắn với công việc được bà Đinh Thị Tuyết Trinh, Giám đốc Đào tạo và Tuyển dụng Alta Group, chia sẻ qua chương trình “học kỳ doanh nghiệp”. Doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên năm cuối đại học, cao đẳng tham gia dự án sau khi các em đã có kiến thức nền tảng. Bà Trinh nhận xét, sinh viên nhìn chung đáp ứng phần kiến thức cơ bản, nhưng thường cần ít nhất sáu tuần đầu để làm quen với quy trình và cách triển khai dự án thực tế. Khoảng thời gian ấy cho thấy việc hoàn thành học phần ở trường và thích nghi với nhịp làm việc tại doanh nghiệp vẫn là hai yêu cầu khác nhau.

Alta Group đã giới thiệu chương trình đào tạo song hành với 40-50 trường, nhưng theo bà Trinh, hiện mới có khoảng 4-5 trường tham gia và triển khai có hiệu quả. Số còn lại chủ yếu dừng lại ở mức ký kết, chưa hợp tác sâu. Bà cho rằng, có thể còn vướng mắc trong cơ chế nội bộ của các trường, dù chưa xác định cụ thể nằm ở khâu nào. Từ góc nhìn doanh nghiệp, đây là điểm cần hai bên cùng bàn để chương trình hợp tác có thể triển khai.

Từ đặt hàng đến dự án trong trường

Tại Diễn đàn, một số cơ sở đào tạo nêu hướng hợp tác cụ thể với doanh nghiệp công nghệ. Đại diện Trường Đại học Giao thông vận tải đề xuất phối hợp với 365 Group xây dựng phòng thí nghiệm nghiên cứu xe tự hành, để sinh viên kỹ thuật ô tô và cơ điện tử được tiếp cận phương tiện, thiết bị thực tế. Đại diện Đại học Huế cũng nêu khả năng kết nối các dự án phương tiện điện, tự hành với đào tạo và nhu cầu địa phương.

Các đề xuất này mới là bước khởi đầu. Để trở thành hoạt động đào tạo, nhà trường và doanh nghiệp còn phải thống nhất ai cung cấp thiết bị, ai hướng dẫn sinh viên, kết quả dự án được đánh giá ra sao và được tính vào chương trình học thế nào. Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, một phòng thí nghiệm hoặc thỏa thuận hợp tác khó tự nó rút ngắn khoảng cách kỹ năng.

Vì vậy, bài toán đại học thời AI đi xa hơn việc mở thêm môn học về công nghệ. Doanh nghiệp cần nói rõ công việc và năng lực họ cần. Nhà trường phải chuyển yêu cầu ấy thành trải nghiệm học tập có người hướng dẫn, có sản phẩm và cách đánh giá cụ thể. Khi sinh viên được thử sức với công việc thật ngay trong quá trình học, khoảng cách từ giảng đường đến nơi làm việc mới có cơ hội thu hẹp.

Phát biểu chỉ đạo và gỡ nút thắt về cơ chế, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân khẳng định khung pháp lý hiện hành đã mở ra nhiều hành lang thông thoáng để các trường và doanh nghiệp chủ động liên kết.

Theo quy chế đào tạo đại học hiện nay, các trường hoàn toàn có quyền cấu trúc chương trình theo các module đào tạo, cho phép sinh viên tích lũy tín chỉ thông qua dự án hợp tác với doanh nghiệp. Một dự án nghiên cứu hoặc vận hành thực nghiệm kéo dài từ 6-7 tháng hoàn toàn có thể được thẩm định để công nhận tương đương 15-30 tín chỉ, thậm chí thay thế cả một học kỳ chính khóa.

Về đề xuất đưa các mô hình công nghệ cao như xe tự hành, thiết bị bay không người lái (drone) vào trường học, đại diện Bộ GD&ĐT ủng hộ việc thiết lập các mô hình thử nghiệm (sandbox) trong phạm vi khuôn viên các trường đại học. Nếu như cấp phép bay tầm cao đối với drone thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng và đang được xúc tiến cơ chế sandbox, thì các phương tiện tự hành mặt đất hoạt động trong khuôn viên nội bộ hoàn toàn có thể sớm triển khai thông qua hợp đồng liên kết chặt chẽ giữa trường và doanh nghiệp.

Tại Diễn đàn hợp tác nhà trường và doanh nghiệp năm 2026 diễn ra ở TPHCM ngày 28/9, thực tế phát triển các công nghệ hiện đại như xe tự hành hay máy bay không người lái trong nông nghiệp đã đặt ra bài toán cấp thiết về đổi mới đào tạo đại học. Ông Đinh Vĩnh Cường, Chủ tịch Tập đoàn 365 Group, khẳng định thị trường đang thiếu gay gắt lực lượng kỹ sư vận hành và xử lý hệ thống liên ngành thay vì những nhân sự thuần túy cơ khí hay phần mềm. Đứng trước sự dịch chuyển nhu cầu tuyển dụng này, các trường đại học buộc phải nhanh chóng tái cấu trúc chương trình học để tích hợp trí tuệ nhân tạo, robot cùng hạ tầng năng lượng xanh. Để giải quyết tận gốc khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp, việc gắn kết thực tập cần đi vào thực chất thay vì dừng lại ở thủ tục lấy xác nhận. Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân nhấn mạnh các cơ sở giáo dục phải kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo quy mô diện tích hay số lượng tuyển sinh cơ học. Trong thời gian tới, Bộ sẽ phối hợp với cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm kiểm tra, công bố chính xác tỷ lệ sinh viên có việc làm thực tế sau khi tốt nghiệp. Song song với việc rà soát hiệu quả đào tạo, chuẩn đầu ra ngoại ngữ cũng sẽ được siết chặt để nâng cao năng lực cạnh tranh cho lực lượng lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế. Ở góc độ phương pháp giảng dạy, PGS.TS Nguyễn Hữu Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC, nhận định rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở công cụ AI mà ở cách thức tổ chức dạy và học. Việc chuyển đổi mô hình giáo dục thời trí tuệ nhân tạo đòi hỏi sự thay đổi toàn diện từ tư duy quản lý đến phương pháp tương tác giữa giảng viên và sinh viên.