Bỏ qua điều hướng
•

Đầu tư nguồn nhân lực cho thể thao người khuyết tật

Đầu tư nguồn nhân lực cho thể thao người khuyết tật
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Thành tích trên đấu trường quốc tế đang đặt ra yêu cầu mới đối với thể thao người khuyết tật Việt Nam trong việc xây dựng lực lượng kế cận, nâng cao chất lượng huấn luyện và bảo đảm điều kiện cho vận động viên cống hiến lâu dài. Để đáp ứng yêu cầu đó, cần có chiến lược đầu tư nhân lực dài hạn, đồng ...

Ở tuổi 44, lực sĩ Lê Văn Công, đội tuyển cử tạ người khuyết tật Việt Nam, vẫn theo đuổi những mục tiêu chuyên môn. Theo anh, để duy trì phong độ, vận động viên cần chế độ tập luyện, dinh dưỡng, nghỉ ngơi và phục hồi hợp lý. Anh cho rằng: Đặc thù môn cử tạ khiến việc tuyển chọn, đào tạo lực lượng kế cận gặp nhiều trở ngại. Do đó, cần có chế độ riêng cho vận động viên trẻ, tăng đầu tư, bảo đảm khen thưởng tương xứng với thể thao thành tích cao và hỗ trợ học nghề sau khi giải nghệ.

Vận động viên Vi Thị Hằng cũng chỉ ra những hạn chế về điều kiện huấn luyện: Phòng tập thể lực còn thiếu máy móc chuyên dụng; việc phân tích kỹ thuật dưới nước chủ yếu dựa vào quan sát của huấn luyện viên; chưa có thiết bị hỗ trợ như camera dưới nước hay máy đo cơ. Chị mong muốn được tiếp cận khoa học thể thao, có chuyên gia về bơi dành cho người khuyết tật và chuyên gia tâm lý thi đấu. Theo chị, cần giúp người trẻ nhận thức rõ lợi ích sức khỏe, tinh thần và cơ hội nghề nghiệp khi theo đuổi thể thao; bởi ở giai đoạn đầu, khi chưa có chế độ hỗ trợ, nhiều người thường ưu tiên học tập, việc làm và ổn định cuộc sống.

Theo huấn luyện viên đội tuyển cử tạ người khuyết tật Việt Nam Lê Quang Thái, chính sách của các địa phương chưa đồng đều. Hà Nội, Đồng Nai có chế độ trả lương cho vận động viên có tài năng, trong khi Thành phố Hồ Chí Minh chưa có chính sách tiền lương tương tự, dù mức thưởng thi đấu cao hơn một số địa phương khác. Thực tế này ảnh hưởng đến khả năng thu hút người trẻ theo đuổi thể thao chuyên nghiệp.

Huấn luyện viên Thái đề xuất: Cần tổ chức tuyển chọn ngay từ giai đoạn đầu, thông qua các cơ sở bảo trợ xã hội, hội, nhóm và sự phối hợp gia đình. Đội ngũ huấn luyện viên hiện có chuyên môn khá tốt nhưng vẫn thiếu lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện, đánh giá tố chất và định hướng môn thể thao phù hợp cho vận động viên trẻ. Các cơ sở địa phương cũng cần được bổ sung trang thiết bị để người khuyết tật có cơ hội tiếp cận thể thao sớm hơn.

Ông Nguyễn Trọng Thao, Ủy viên Ban Thường vụ Ủy ban Paralympic Việt Nam cho biết, thành phố Đà Nẵng duy trì tổ chức các giải thể thao người khuyết tật ở những môn như bóng bàn, cử tạ, điền kinh, bơi. Qua các giải đấu, ngành thể thao tuyển chọn vận động viên có thành tích tốt tham gia giải quốc gia. Tuy nhiên, công tác đào tạo hiện vẫn mang tính thời điểm, chủ yếu tập trung trước mỗi giải đấu, chưa hình thành hệ thống tuyển chọn và huấn luyện liên tục từ phong trào lên thành tích cao.

Thành phố đang vận động doanh nghiệp tham gia thành lập Hội Thể thao người khuyết tật Đà Nẵng, hướng tới mở rộng hoạt động tập luyện, thi đấu và hỗ trợ vận động viên. Ở Hà Tĩnh, công tác phát triển thể thao người khuyết tật được đặt trong định hướng kết hợp phong trào quần chúng với thể thao thành tích cao.

Ông Trần Xuân Lương, Phó Giám đốc phụ trách Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, nguồn vận động viên có năng khiếu tại địa phương chưa được phát hiện thường xuyên, rộng khắp. Nhiều người khuyết tật ở khu vực nông thôn gặp trở ngại về kinh tế, phương tiện đi lại và khả năng tiếp cận cơ sở tập luyện.

Bên cạnh đó, trang thiết bị chuyên biệt còn thiếu, đội ngũ huấn luyện viên được đào tạo chuyên sâu chưa đáp ứng yêu cầu. Việc chưa có hệ thống tuyển chọn, đào tạo liên tục từ cơ sở lên tuyến tỉnh cũng ảnh hưởng đến quá trình xây dựng lực lượng trẻ.

Ông Lương nhấn mạnh: “Chính sách hỗ trợ không nên tập trung ở chế độ tập luyện, thi đấu và khen thưởng thành tích, mà cần quan tâm cả điều kiện đi lại, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề và cơ hội việc làm. Đây là những yếu tố rất quan trọng để vận động viên yên tâm tập luyện, gắn bó lâu dài với thể thao và ổn định cuộc sống sau khi kết thúc sự nghiệp thi đấu”.

Hà Tĩnh xác định, cần tăng cường phối hợp cơ sở giáo dục, cơ sở trợ giúp xã hội và các tổ chức liên quan để phát hiện người có năng khiếu, đầu tư cơ sở vật chất theo lộ trình, ưu tiên những môn phù hợp với điều kiện địa phương. Đội ngũ huấn luyện viên cũng cần được bồi dưỡng kiến thức về đặc điểm vận động, tâm lý, sức khỏe và phương pháp huấn luyện theo từng dạng khuyết tật.

Bà Hồ Thanh My, Trưởng ban Quan hệ quốc tế Ủy ban Paralympic Việt Nam, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thể thao người khuyết tật Đông Nam Á (APSF) cho biết, lực lượng vận động viên chủ lực của Việt Nam hiện phần lớn đã lớn tuổi, việc tìm kiếm nhân tố trẻ đủ khả năng tiếp nối đang là thách thức. Vì vậy, cần đẩy mạnh hoạt động thể thao người khuyết tật tại địa phương, tổ chức tập huấn cho cán bộ, huấn luyện viên cơ sở về nhận biết các dạng khuyết tật, đánh giá tố chất và lựa chọn môn thể thao phù hợp. Một yêu cầu quan trọng khác là phân hạng thương tật theo tiêu chuẩn quốc tế. Khi vận động viên được phân hạng chính xác, ngành thể thao mới có cơ sở đánh giá thành tích, khả năng cạnh tranh và xây dựng phương án đầu tư phù hợp.

Bà My cũng chỉ ra khoảng trống chính sách ở tuyến năng khiếu. Các địa phương hiện còn thiếu căn cứ để tổ chức lớp đào tạo năng khiếu dành riêng cho người khuyết tật. Cần có hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý để tạo điều kiện cho các tỉnh, thành phố tuyển chọn và đào tạo lực lượng trẻ ngay tại cơ sở.

Đánh giá về thực trạng toàn ngành, Phó Cục trưởng Thể dục thể thao Việt Nam Nguyễn Trọng Hổ cho rằng, dù đã đạt nhiều thành tích đáng ghi nhận, thể thao người khuyết tật Việt Nam vẫn có khoảng cách nhất định so với nhóm dẫn đầu châu Á. Hạn chế lớn nằm ở nguồn lực đầu tư, cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên biệt chưa đồng bộ, lực lượng kế cận tại một số môn mũi nhọn còn mỏng. Đặc thù huấn luyện vận động viên là người khuyết tật đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chuyên môn, y tế, dinh dưỡng và tâm lý trị liệu, với thời gian đầu tư dài hơn.

Ông Hổ khẳng định: “Thành tích đỉnh cao chỉ là phần nổi, nếu không có một nền tảng phong trào quần chúng vững chắc thì khó có thể duy trì sự phát triển”.

Theo đó, ngành thể dục thể thao sẽ phối hợp các bộ, ngành, địa phương, tổ chức hội và cơ sở bảo trợ xã hội để mở rộng hoạt động thể thao cho người khuyết tật. Việc ứng dụng nền tảng số trong tuyên truyền, hướng dẫn tập luyện cũng được xác định là giải pháp hỗ trợ tiếp cận và phát hiện nhân tố mới. Hướng tới các kỳ Asian Para Games 2030, 2034 và Paralympic 2032, công tác chuẩn bị cần được triển khai ngay từ hôm nay. Đầu tư nhân lực phải bắt đầu từ cơ sở, được bảo đảm bằng chính sách phù hợp và hệ thống đào tạo liên tục, tạo nền tảng cho thể thao người khuyết tật Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

THU NGUYỄN

Thành tích trên đấu trường quốc tế đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với thể thao người khuyết tật Việt Nam trong việc xây dựng lực lượng kế cận và chuẩn hóa điều kiện huấn luyện. Ở tuổi 44, lực sĩ Lê Văn Công vẫn bền bỉ thi đấu nhưng việc tìm kiếm thế hệ kế thừa gặp rất nhiều trở ngại do đặc thù môn cử tạ. Để giữ chân các tài năng trẻ, ngành thể thao cần thiết lập chế độ đãi ngộ riêng, bảo đảm mức khen thưởng tương xứng và hỗ trợ học nghề bền vững sau giải nghệ. Bên cạnh chính sách đãi ngộ, việc ứng dụng khoa học thể thao vào công tác huấn luyện vẫn còn nhiều khoảng trống kỹ thuật. Kình ngư Vi Thị Hằng cho biết các phòng tập thể lực còn thiếu máy móc chuyên dụng, đồng thời việc phân tích kỹ thuật dưới nước chủ yếu dựa vào quan sát bằng mắt thường do chưa có camera chuyên dụng hay máy đo cơ. Thực tế này đòi hỏi sự bổ sung kịp thời về trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia tâm lý và y sinh học thể thao. Sự chênh lệch chính sách giữa các địa phương cũng đang cản trở tiến trình thu hút nhân tài thể thao khuyết tật. Trong khi Hà Nội và Đồng Nai đã có cơ chế chi trả tiền lương cho vận động viên tài năng, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa áp dụng chính sách tương tự dù mức thưởng thi đấu khá cao. Huấn luyện viên Lê Quang Thái đề xuất cần chủ động phát hiện nguồn vận động viên ngay từ các cơ sở bảo trợ xã hội và gia đình, thay vì chỉ tuyển chọn thụ động. Tại các địa phương như Đà Nẵng hay Hà Tĩnh, công tác đào tạo nhìn chung vẫn mang tính thời điểm trước mỗi giải đấu chứ chưa tạo thành hệ sinh thái liên tục từ phong trào lên đỉnh cao. Đại diện ngành thể thao các địa phương đều nhận định khó khăn lớn nằm ở mạng lưới tìm kiếm năng khiếu chưa rộng khắp và rào cản kinh tế của người khuyết tật nông thôn. Việc đẩy mạnh xã hội hóa và thành lập các hội thể thao chuyên biệt được xem là giải pháp then chốt để mở rộng cơ hội tiếp cận bền vững.
amung