Một mái ấm ổn định gắn với chất lượng sống, khả năng tái tạo sức lao động, sự gắn bó của người dân với Thành phố và xa hơn là nền tảng cho phát triển bền vững.
Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu xây dựng khoảng 194.000 căn nhà ở xã hội vào năm 2030 và phấn đấu nâng quy mô lên khoảng 300.000 căn trong thời gian tới nhằm đáp ứng nhu cầu về chỗ ở của người dân.
Những con số ấy cho thấy quyết tâm gia tăng mạnh nguồn cung nhưng bài toán nhà ở xã hội không dừng lại ở số căn hộ được xây dựng, bởi điều người dân quan tâm hơn cả là những căn nhà ấy có thật sự nằm trong khả năng tiếp cận của mình hay không. Từ chủ trương đến một mái ấm thực tế vẫn còn khoảng cách, nhất là khi khả năng tài chính, điều kiện xét duyệt và sức chịu đựng của thu nhập gia đình chưa phải lúc nào cũng gặp nhau. Các nghiên cứu chuyên sâu về chính sách nhà ở đã chỉ ra khá rõ khoảng cách giữa chính sách ban hành với khả năng thụ hưởng trong đời sống của người dân.
Điều đó gợi ra một cách nhìn sâu hơn về khái niệm “giá phù hợp”. Một căn hộ có giá thấp hơn nhà ở thương mại chưa hẳn đã vừa túi tiền nếu người mua phải dành phần lớn thu nhập trong nhiều năm cho khoản vay. Ngoài tiền mua nhà còn có chi phí nuôi con, học hành, y tế, đi lại và những nhu cầu thiết yếu khác. Vì vậy, điều đáng quan tâm không chỉ là giá căn hộ bao nhiêu, mà sau khi trả tiền nhà, một gia đình còn lại bao nhiêu để duy trì một cuộc sống ổn định.
Từ góc độ ấy, chính sách nhà ở xã hội nên tiến thêm một bước, từ xác định ai “đủ điều kiện mua” sang quan tâm nhiều hơn đến việc người dân có thật sự “mua được” hay không. Khoản tiền ban đầu, thời hạn vay, lãi suất và nghĩa vụ trả nợ hằng tháng nếu được thiết kế sát hơn với từng nhóm thu nhập sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng chi trả. Chính sách chỉ thật sự đi hết quãng đường từ văn bản đến cuộc sống khi người lao động có thể bước vào căn nhà bằng thu nhập chính đáng của mình mà không phải đánh đổi quá nhiều nhu cầu thiết yếu khác.
Một căn nhà có giá vừa sức nhưng cách nơi làm việc quá xa có thể khiến khoản tiền tiết kiệm được từ giá mua nhanh chóng chuyển thành chi phí đi lại, thời gian và sức khỏe. Bởi vậy, nhà ở xã hội nên được hình thành trong những không gian sống tương đối hoàn chỉnh, nơi cư dân thuận lợi tiếp cận giao thông công cộng, trường học, cơ sở y tế, thương mại, dịch vụ và các khu vực tạo việc làm. Khi quy hoạch nhà ở gắn với tổ chức lại không gian đô thị, Thành phố vừa giảm áp lực cho khu vực trung tâm, vừa tạo điều kiện hình thành những cộng đồng dân cư ổn định tại các cực tăng trưởng mới.
Bên cạnh hình thức sở hữu, phân khúc nhà ở xã hội cho thuê và thuê mua mở ra một lựa chọn thực tế hơn cho nhiều nhóm dân cư. Người trẻ mới lập nghiệp, công nhân từ các địa phương đến Thành phố làm việc hay những gia đình chưa tích lũy đủ vốn không nhất thiết phải mua nhà ngay. Với họ, một nơi ở an toàn, ổn định, có mức thuê hợp lý trong nhiều năm đôi khi phù hợp hơn việc sớm gánh một khoản nợ lớn khi nền tảng tài chính còn mỏng.
Các nghiên cứu chuyên sâu về chính sách nhà ở hiện nay cho thấy tư duy phát triển đang dần mở rộng từ nhà ở xã hội theo cách tiếp cận truyền thống sang hệ sinh thái nhà ở vừa túi tiền, kết nối các chương trình hỗ trợ của Nhà nước với những phân khúc phù hợp hơn với khả năng chi trả của người dân. Cách tiếp cận này tạo ra nhiều nấc lựa chọn, từ thuê, thuê mua, sở hữu nhà ở xã hội đến nhà ở thương mại vừa túi tiền, qua đó giúp mỗi gia đình tìm được phương án phù hợp với thu nhập và từng giai đoạn của cuộc sống.
Để tạo lập một thị trường như vậy, vai trò kiến tạo của Nhà nước thể hiện ở việc chuẩn bị quỹ đất, đầu tư hạ tầng, cải cách thủ tục và xây dựng các công cụ tài chính có tính dài hạn. Về phía doanh nghiệp, một môi trường đầu tư ổn định, thủ tục rõ ràng và cơ chế phân bổ lợi ích hợp lý sẽ tạo động lực tham gia bền vững hơn. Những ưu đãi về đất đai, vốn hay hạ tầng chỉ thật sự có ý nghĩa khi cuối cùng được chuyển hóa thành giá bán, giá thuê phù hợp hơn cho người thụ hưởng.
Đích đến của chính sách nhà ở xã hội vì thế không nên chỉ được đo bằng số dự án được phê duyệt, số công trình khởi công hay số căn hộ hoàn thành. Thước đo có ý nghĩa hơn là một công nhân, giáo viên, điều dưỡng, cán bộ trẻ hay một gia đình sống bằng thu nhập từ lao động có thể tìm được nơi ở phù hợp, đi làm thuận tiện và vẫn dành được nguồn lực cho con cái, sức khỏe cùng những dự định của tương lai.
Khi hàng trăm nghìn căn nhà dự kiến trong những năm tới thật sự nằm trong tầm với của người dân, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giải quyết được nhiều hơn một nhu cầu về chỗ ở. Mỗi mái ấm ổn định sẽ góp phần giữ chân nguồn nhân lực, nuôi dưỡng sự gắn bó của người lao động với nơi mình sinh sống và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho một Thành phố phát triển năng động, hiện đại nhưng luôn đặt chất lượng sống của người dân ở vị trí trung tâm.
Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Anh