Chị Trang mới đi làm được hơn 1 tháng, khi khám sức khỏe định kỳ thì phát hiện mang thai. Công ty yêu cầu chị tự nguyện xin nghỉ việc vì nếu để chị tiếp tục làm việc, khi giải quyết chế độ thai sản sẽ bị bảo hiểm xã hội thanh tra.
Chị Trang hỏi: “Nếu tôi không đồng ý tự nguyện xin nghỉ việc thì công ty có thể đuổi việc tôi không? Nếu bị đuổi việc thì tôi có được bồi thường gì không?”.
Lao động nữ mang thai được pháp luật lao động bảo vệ (Ảnh minh họa: Sơn Nguyễn).
Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ được bảo vệ khi đang mang thai. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Khi đang mang thai, lao động nữ chỉ có thể bị sa thải nếu người sử dụng lao động là cá nhân chết (hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích, đã chết); hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động, bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
Thậm chí, nếu hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì lao động này được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
Nếu người sử dụng lao động có hành vi sa thải lao động nữ đang mang thai sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 283/2026/NĐ-CP (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).
Theo Khoản 2 Điều 26 Nghị định 283/2026, người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu có hành vi sa thải người lao động hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Mức phạt trên áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Đối với người sử dụng lao động là tổ chức (đơn vị, doanh nghiệp…) thì mức xử phạt tiền sẽ tăng gấp đôi, tức là từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng. Riêng đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình có hành vi vi phạm trên thì bị xử phạt như đối với cá nhân.
Ngoài việc bị xử phạt hành chính, người sử dụng lao động bắt buộc phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là nhận người lao động trở lại làm việc.