Bỏ qua điều hướng

Đổi mới sáng tạo để nâng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia

Đổi mới sáng tạo để nâng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Đó là chia sẻ của TS Trần Lê Hồng - Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ - tại Diễn đàn chiến lược thương hiệu và cạnh tranh ở Hà Nội, ngày 23-9.

Đổi mới sáng tạo để năng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia - Ảnh 1.

TS Trần Lê Hồng - Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ - chia sẻ - Ảnh: BTC

Với chủ đề "Đổi mới sáng tạo - từ năng lực công nghệ đến giá trị thương hiệu và lợi thế cạnh tranh quốc gia", các diễn giả đã chia sẻ thông tin, quan điểm và bàn về giải pháp xây dựng thương hiệu quốc gia.

Theo TS Trần Lê Hồng - Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ, giá trị thương hiệu, lợi thế cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết vận hành như một hệ thống trật tự nhân quả và có các vòng phản hồi.

Thời gian qua, yếu tố đổi mới sáng tạo được thế giới quan tâm, ông Hồng lấy dẫn chứng 2.000 doanh nghiệp đầu tư R&D lớn nhất thế giới chi 1.442 tỉ EUR cho đổi mới sáng tạo.

Tại Việt Nam, chỉ số đổi mới sáng tạo đang xếp thứ 44 trong GII 2025. Về quy mô sản xuất công nghệ cao, chúng ta vẫn chủ yếu ở khâu lắp ráp, năng lực thiết kế và làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế.

Đổi mới sáng tạo để năng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia - Ảnh 2.

Công nhân sản xuất hàng may mặc xuất khẩu - Ảnh: HÀ QUÂN

Đối với giá trị thương hiệu quốc gia, năm 2024 được định giá 507 tỉ USD, tổng giá trị Top 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam khoảng 38,4 tỉ USD (2025) và 43 tỉ USD (2026). Qua đó có thể thấy giá trị thương hiệu quốc gia tăng nhanh, nhưng giá trị thương hiệu doanh nghiệp còn hạn chế.

Về lợi thế cạnh tranh, ông Hồng cho rằng vị thế xuất khẩu của Việt Nam lớn nhưng giá trị gia tăng giữ lại thấp; khoảng một nửa GDP và một nửa việc làm phụ thuộc xuất khẩu.

Ông Hồng đề xuất các giải pháp, thứ nhất đưa mục tiêu chi R&D đạt 2% GDP về đúng cấu trúc nguồn vốn. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu chi R&D đạt 2% GDP vào năm 2030 với hơn 60% đến từ xã hội, cùng yêu cầu bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học công nghệ.

Chuyển trọng tâm ưu đãi FDI từ thu hút sang liên kết: có chuyển giao thực chất; yêu cầu về hoạt động R&D tại chỗ đối với các dự án được hưởng ưu đãi cao nhất. Xây dựng năng lực hấp thụ trước khi kỳ vọng đổi mới đột phá.

Đồng thời cần coi hệ thống sở hữu trí tuệ là hạ tầng kinh tế, không phải thủ tục hành chính; phát triển dấu hiệu chất lượng tập thể cho nông sản; chấp nhận độ trễ và giữ tính liên tục của chính sách.

Theo bà Hà Kiều Oanh - Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, trong bối cảnh hội nhập, niềm tin và năng lực cung ứng ngày càng quan trọng hơn độ nhận diện đơn thuần. Thương hiệu không thể tách rời khả năng tạo ra giá trị và đổi mới liên tục.

"Thương hiệu quốc gia chỉ thực sự trở thành nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh khi được xây dựng trên năng lực thực chất của doanh nghiệp, và được chuyển hóa thành niềm tin của thị trường" - bà Hà Kiều Oanh nhấn mạnh.

Diễn đàn Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh do Viện Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức, nhằm mở ra không gian đối thoại chuyên sâu để giải quyết bài toán quản trị và phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp Việt, trong bối cảnh hội nhập và bùng nổ công nghệ.

Đổi mới sáng tạo để năng cao giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia - Ảnh 4.TP.HCM đặt mục tiêu đến 2030 hình thành ít nhất 5 thương hiệu quốc gia trong lĩnh vực văn hóa

Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM Trần Thế Thuận nêu rõ TP.HCM đặt mục tiêu đến 2030, các ngành công nghiệp văn hóa sẽ đóng góp khoảng 7,2% GRDP, tốc độ tăng trưởng khoảng 12%/năm và sẽ hình thành ít nhất là 5 thương hiệu quốc gia.

Tại Diễn đàn chiến lược thương hiệu và cạnh tranh diễn ra ở Hà Nội ngày 23-9, các chuyên gia đã tập trung thảo luận giải pháp chuyển hóa năng lực công nghệ thành giá trị thương hiệu và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Theo TS Trần Lê Hồng, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, đổi mới sáng tạo cùng năng lực công nghệ và giá trị thương hiệu vận hành theo một hệ thống trật tự nhân quả có vòng phản hồi mật thiết. Dù Việt Nam xếp thứ 44 trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2025) và định giá thương hiệu quốc gia năm 2024 đạt 507 tỉ USD, quy mô sản xuất công nghệ cao trong nước vẫn chủ yếu dừng ở khâu lắp ráp với năng lực làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế. Thực tế phát triển cho thấy giá trị thương hiệu quốc gia tăng nhanh nhưng giá trị Top 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam lại khá khiêm tốn, dự kiến đạt 38,4 tỉ USD năm 2025 và 43 tỉ USD năm 2026. Bên cạnh đó, vị thế xuất khẩu của Việt Nam dù lớn nhưng giá trị gia tăng giữ lại còn thấp khi khoảng một nửa GDP và việc làm vẫn phụ thuộc vào xuất khẩu. Trước thực trạng này, ông Hồng đề xuất đưa mục tiêu chi R&D đạt 2% GDP về đúng cấu trúc nguồn vốn theo Nghị quyết 57-NQ/TW, đồng thời chuyển trọng tâm ưu đãi FDI từ thu hút đơn thuần sang liên kết chuyển giao công nghệ thực chất và yêu cầu R&D tại chỗ. Bên cạnh giải pháp tài chính và công nghệ, hệ thống sở hữu trí tuệ cần được coi là hạ tầng kinh tế thay vì thủ tục hành chính thuần túy, kết hợp phát triển dấu hiệu chất lượng tập thể cho nông sản và duy trì tính liên tục của chính sách. Đại diện Cục Xúc tiến thương mại thuộc Bộ Công Thương, bà Hà Kiều Oanh, nhấn mạnh rằng niềm tin và năng lực cung ứng đóng vai trò then chốt hơn độ nhận diện đơn thuần trong bối cảnh hội nhập bùng nổ. Thương hiệu quốc gia chỉ thực sự trở thành nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh khi được xây dựng trên năng lực thực chất của doanh nghiệp và được chuyển hóa thành niềm tin của thị trường.