Bỏ qua điều hướng
•

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Lượng khách tăng có thể mang lại nguồn thu cho địa phương, nhưng chưa đủ để khẳng định rằng một điểm đến nào đó đã phát triển hiệu quả. Rác thải, nước thải, áp lực lên nguồn nước và hệ sinh thái làm suy giảm sức hấp dẫn của điểm đến. Nếu người dân ít tham gia và hạn chế được hưởng lợi từ hoạt động du lịch, việc gìn giữ cảnh quan, văn hóa cũng khó duy trì lâu dài. Du lịch xanh vì thế cần gắn bảo vệ môi trường với tạo sinh kế tại chỗ.

Một thống kê mới đây của UN Tourism cho thấy: 96% quốc gia thành viên tham gia khảo sát tin rằng du lịch cộng đồng tiếp tục đóng vai trò lớn trong phát triển kinh tế địa phương, tạo việc làm và cải thiện sinh kế; đó cũng là những lợi ích được nhắc đến nhiều nhất.

Cù Lao Chàm (thuộc xã đảo Tân Hiệp, Đà Nẵng) là một thí dụ nổi bật về kết hợp bảo vệ môi trường biển với phát triển du lịch cộng đồng. Từ năm 2009 đến nay, địa phương này lan tỏa và thực hiện nghiêm túc thông điệp: “nói không với túi ni-lông và sản phẩm nhựa dùng một lần”. Chính quyền, cư dân, các tổ chức bảo tồn, cơ sở kinh doanh và du khách đều chung nhận thức rất rõ về mối quan hệ trực tiếp giữa hành động hạn chế rác thải nhựa và việc bảo vệ môi trường biển, tài nguyên quan trọng đối với đời sống cư dân và hoạt động du lịch. Khi môi trường được bảo vệ, điểm đến có điều kiện phát triển, đồng thời nguồn thu từ du lịch tạo thêm động lực để người dân tiếp tục gìn giữ tài nguyên biển.

Tại đặc khu Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh), hướng phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao cũng mở ra khả năng kết nối kinh tế biển với du lịch trải nghiệm. Tham quan lồng bè, tìm hiểu quy trình chăm sóc, thu hoạch hải sản và thưởng thức sản phẩm tại chỗ có thể trở thành những hoạt động bổ sung cho các sản phẩm du lịch hiện có. Nếu được tổ chức phù hợp sức chịu tải của môi trường, tuân thủ yêu cầu an toàn và kiểm soát chất thải, mô hình này sẽ góp phần đa dạng hóa sinh kế cho ngư dân, đồng thời gia tăng giá trị của sản phẩm biển.

Một hướng đi đáng chú ý khác là phát triển du lịch sinh thái dưới tán rừng, gắn bảo tồn với chuyển đổi sinh kế của cư dân vùng đệm. Theo ông Nguyễn Châu Á, Tổng Giám đốc Oxalis Adventure, khai thác du lịch đi đôi với tái tạo rừng và tạo việc làm cho người dân sống quanh rừng sẽ là xu hướng quan trọng. Việc hiểu và áp dụng hiệu quả quy định về dịch vụ môi trường rừng có thể tạo lợi thế cho du lịch Việt Nam, quốc gia có tỷ lệ che phủ rừng khoảng 42% diện tích.

Oxalis cùng các đối tác địa phương và Vườn quốc gia Cát Tiên đang xây dựng mô hình làng du lịch cộng đồng Tà Lài (Đồng Nai), kết hợp giá trị sinh thái với bản sắc văn hóa của các dân tộc Chơ Ro, Châu Mạ và Xtiêng. Mô hình hướng tới tạo sinh kế từ lưu trú, nông nghiệp sạch và nghề thủ công, đồng thời giảm áp lực khai thác rừng. Nghề dệt thổ cẩm đặc trưng được phục dựng, góp phần gìn giữ tri thức bản địa và tạo thêm sản phẩm phục vụ du khách. Trong nhóm 16 hướng dẫn viên đầu tiên, có 12 người Châu Mạ ở làng Tà Lài. Họ am hiểu địa hình, tập tính động vật và đang học hỏi cách thức chuyển tri thức gắn bó với rừng thành giá trị dịch vụ. Chỉ mới ra mắt từ giữa năm 2026, tour trải nghiệm Katien Safari tại đây đã gây được tiếng vang với du khách trong nước và quốc tế yêu thích du lịch có trách nhiệm.

Trước đó, tại làng Tân Hóa (tỉnh Quảng Trị), Oxalis góp phần phát triển mô hình du lịch dựa vào cộng đồng, được UN Tourism vinh danh là “Làng du lịch tốt nhất thế giới” năm 2023. Địa phương khai thác tài nguyên thiên nhiên có trách nhiệm, gìn giữ bản sắc và thích ứng với tình trạng ngập lụt đặc trưng. Người dân trực tiếp làm hướng dẫn viên, hỗ trợ hành trình, chủ homestay hoặc cung cấp dịch vụ ăn uống. Làng đón hơn 10.000 lượt khách mỗi năm, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 100 lao động địa phương. Thu nhập của nhiều hộ tăng cao so với trước, trong khi áp lực khai thác tài nguyên tự nhiên giảm đáng kể.

Để nhân rộng những mô hình này, các điểm đến cần kết nối các phương thức sản xuất nông nghiệp, ẩm thực, nghề thủ công, lưu trú và doanh nghiệp lữ hành. Cơ sở lưu trú sử dụng nông sản địa phương, doanh nghiệp liên kết trực tiếp với hợp tác xã và làng nghề, ưu tiên lao động tại chỗ sẽ giúp tăng giá trị sản phẩm và giữ lại nhiều nguồn thu hơn cho cộng đồng. Theo Phó Cục trưởng Du lịch quốc gia Việt Nam Nguyễn Thị Hoa Mai, các điểm đến này phải đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chí không rác thải nhựa, phát thải carbon thấp và tuần hoàn tài nguyên nước. Ngoài ra, hướng tới việc nâng cao chất lượng hành trình khám phá, toàn ngành có thể thúc đẩy sự dịch chuyển từ du lịch tiêu dùng sang du lịch tạo giá trị.

Cùng với nghệ thuật kể chuyện của cư dân sở tại để mở lối dẫn du khách trải nghiệm đời sống địa phương, các điểm đến lồng ghép thực hành tiêu chí xanh với bản sắc văn hóa, biến điều đó thành một chuẩn mực mới mang trách nhiệm xã hội và tính nhân văn trong kinh doanh du lịch. Nhờ vậy, hành trình khám phá Việt Nam sẽ ngày càng hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Du lịch cộng đồng là cầu nối quan trọng, giúp người dân trực tiếp cung cấp dịch vụ, phát huy tri thức bản địa và có thêm động lực bảo vệ tài nguyên.

HOÀNG MỸ

Tăng trưởng lượng khách du lịch không còn là thước đo duy nhất cho sự phát triển hiệu quả nếu thiếu vắng tính bền vững sinh thái và sự tham gia của cộng đồng bản địa. Thống kê từ UN Tourism khẳng định 96% quốc gia thành viên nhận định du lịch cộng đồng giữ vai trò cốt lõi trong việc thúc đẩy kinh tế địa phương và tạo sinh kế. Thực tế tại Cù Lao Chàm cho thấy việc kiên trì cam kết loại bỏ túi ni-lông và đồ nhựa dùng một lần từ năm 2009 đã trực tiếp hồi sinh môi trường biển, đồng thời tạo nguồn lợi kinh tế vững chắc cho cư dân xã đảo Tân Hiệp. Khai thác giá trị tự nhiên song hành cùng chuyển đổi sinh kế đang hình thành nên những mô hình kinh tế biển và rừng giàu tiềm năng. Tại đặc khu Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh, việc tích hợp nuôi trồng thủy sản công nghệ cao vào du lịch trải nghiệm lồng bè giúp gia tăng giá trị sản phẩm biển trong giới hạn sức chịu tải sinh thái. Tương tự, với độ che phủ rừng chiếm khoảng 42% diện tích cả nước, du lịch sinh thái dưới tán rừng mở ra phương thức bảo tồn hiệu quả thông qua cơ chế dịch vụ môi trường rừng. Dự án phát triển làng du lịch cộng đồng Tà Lài tại Đồng Nai của Oxalis Adventure cùng Vườn quốc gia Cát Tiên là minh chứng điển hình cho việc kết hợp tài nguyên sinh thái với tri thức bản địa. Mô hình này khôi phục nghề dệt thổ cẩm của các dân tộc Chơ Ro, Châu Mạ, Xtiêng và xây dựng sinh kế bền vững từ lưu trú đến nông nghiệp sạch nhằm giảm sức ép khai thác rừng. Việc đào tạo 12 người Châu Mạ trong nhóm 16 hướng dẫn viên đầu tiên đã chuyển hóa sự am hiểu địa hình, tập tính muôn loài thành tài sản du lịch đặc trưng.
amung