The Independent ngày 6.10 cho hay các bác sĩ Trung Quốc đã điều trị một trường hợp thai nhi mắc phải dị tật phổi bẩm sinh hiếm gặp, gọi tắt là CPAM (tỷ lệ xuất hiện khoảng 1 trên 25.000 - 35.000 ca mang thai). Dù phần lớn các ca bệnh đều vô hại, thế nhưng trong số ít trường hợp, khối u có thể phát triển nhanh, chèn ép tim phổi và dẫn đến nguy cơ tử vong ở thai nhi.
Trước đây, y học chưa có phương pháp điều trị cố định cho các ca bệnh CPAM. Các giải pháp truyền thống như tiêm thuốc steroid, đặt ống dẫn lưu hay phẫu thuật mở tử cung để cắt bỏ khối u đều tiềm ẩn rủi ro sinh non hoặc nguy hiểm tính mạng. Theo nghiên cứu của Đại học California San Francisco (Mỹ), đối với các ca phẫu thuật mở, tỷ lệ sống sót của thai nhi chỉ đạt khoảng 50%.

Ảnh siêu âm các bác sĩ dùng thủ thuật luồn chiếc kim vào bụng thai phụ và sử dụng vi sóng để thu nhỏ khối u của thai nhi trong ca điều trị CPAM
ẢNH: TẠP CHÍ ULTRASOUND IN OBSTETRICS & GYNECOLOGY
Trong ca bệnh nêu trên, được công bố trên tạp chí Ultrasound in Obstetrics & Gynecology hồi tháng 8, bệnh nhân là một thai phụ 40 tuổi. Ở tuần thai thứ 22, khối u của em bé đã phát triển tới 5 cm, đủ lớn để chèn ép tim, phổi và gây tích tụ dịch nguy hiểm trong ổ bụng.
Thay vì mổ hở, các bác sĩ đến từ Bệnh viện Phụ nhi Bảo An Thâm Quyến và Đại học Trung văn Hồng Kông tại Trung Quốc đã thực hiện thủ thuật luồn một chiếc kim nhỏ qua bụng người mẹ để đi thẳng vào khối u trong phổi thai nhi. Thông qua chiếc kim, họ truyền năng lượng vi sóng vào bên trong. Kỹ thuật này sử dụng vi sóng làm rung các phân tử nước để tạo ra nhiệt lượng cực lớn, qua đó "thiêu rụi" khối u từ trong ra ngoài.
Kết quả phẫu thuật được đánh giá rất khả quan. Chỉ 3 ngày sau, khối u đã teo lại đáng kể và tình trạng ứ dịch trong bụng thai nhi biến mất hoàn toàn. Bệnh nhi sau đó đã chào đời khỏe mạnh ở tuần thứ 37 bằng phương pháp sinh mổ, nặng 2,9 kg.
Giới chuyên môn đánh giá thủ thuật xâm lấn tối thiểu này là một "cột mốc mới", đánh dấu lần đầu tiên công nghệ thiêu đốt khối u bằng vi sóng được ứng dụng để điều trị CPAM. Dù mang lại kết quả đầy hứa hẹn, các bác sĩ nhấn mạnh vẫn cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định tính an toàn và hiệu quả của phương pháp này trước khi biến nó thành một phác đồ điều trị tiêu chuẩn.