Bỏ qua điều hướng
•

Dự kiến bỏ điểm cộng IELTS: "Cần có lộ trình!"

Dự kiến bỏ điểm cộng IELTS: "Cần có lộ trình!"
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Độc giả Dân trí cho rằng nếu bỏ cơ chế cộng điểm IELTS trong xét tuyển đại học, Bộ GD&ĐT cần có lộ trình 2-3 năm để thí sinh và phụ huynh có thời gian chuẩn bị.

Thông tin Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến bỏ điểm cộng IELTS, giải học sinh giỏi trong xét tuyển đại học thu hút sự quan tâm của nhiều cha mẹ học sinh suốt 2 ngày qua.

Theo dự kiến mới nhất của Bộ GD&ĐT, từ 2027, thí sinh không còn được cộng tối đa 3 điểm với chứng chỉ IELTS, giải học sinh giỏi hay các thành tích, tiêu chí bổ sung do từng trường đại học quy định.

Dự kiến bỏ điểm cộng IELTS: Cần có lộ trình! - 1

Thí sinh ngồi nghe phổ biến quy chế thi (Ảnh: Nam Anh).

Đọc được thông tin này, độc giả Phan Trinh nhận xét bỏ điểm cộng IELTS là đúng, bởi theo bạn đọc này, đã gọi là thi tại sao lại có người xuất phát trước (được cộng thêm điểm), người xuất phát sau.

"Kể cả việc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, theo tôi chỉ để quy đổi hoặc miễn thi cho những tình huống để xét điều kiện đạt/không đạt, còn quy đổi ra theo thang điểm 10 là không phù hợp. Nếu đã giỏi thì cùng thi với nhau xem kết quả thế nào.

Những người đã giỏi cần gì đến điểm cộng, còn những người phải cần đến điểm cộng để đỗ thì chắc chắn không giỏi nên không cần tuyển những người này. Hãy để kỳ thi công bằng hơn với tất cả mọi người", bạn đọc nêu ý kiến.

Cũng ủng hộ phương án bỏ điểm cộng IELTS trong xét tuyển đại học, bạn đọc Nghia Vu nêu thực tế nhiều học sinh thi điểm PTTH điểm thấp, nhưng nhờ điểm cộng lại đỗ, trong khi các bạn thi điểm cao hơn nhiều nhưng vì nhà không có điều kiện học IELTS nên không đỗ.

"Những người có điểm IELTS tốt hay đoạt giải chứng tỏ họ giỏi. Tuy nhiên, chỉ nên cộng điểm nếu họ theo học ngành mà họ có giải. Ví dụ giỏi IELTS về tiếng Anh, thì chỉ nên cộng điểm vào các ngành học liên quan nhiều ngoại ngữ, ngôn ngữ... chứ các ngành kỹ thuật thì không cần nhiều tiếng anh.

Và chỉ nên khuyến khích cộng 0.5-1 điểm thi đại học, chứ nếu cộng nhiều 3 điểm, coi như họ quá nhiều lợi thế, gần như hơn hẳn người không cộng điểm", bạn đọc tên Cường bình luận.

Bạn đọc Quynh Tran chỉ ra 4 nguyên nhân nên bỏ điểm cộng IELTS.

Thứ nhất, theo bạn đọc này, khá nhiều phụ huynh than phiền con em đang chịu áp lực từ việc học hành, thi cử, thành tích, cùng áp lực về tiền bạc, thời gian và công sức học thêm của cả gia đình. Vì vậy, nếu bỏ điểm cộng chứng chỉ IELTS, có thể giảm bớt một phần áp lực về thi cử, thành tích cũng như chi phí và công sức cho việc học.

Thứ hai, bạn đọc đặt câu hỏi: Chương trình giảng dạy tiếng Anh ở phổ thông chưa tốt hay sao mà học sinh phải tìm đến các trung tâm để học và luyện thi IELTS?

Thứ ba, trong khi nhiều người vẫn phản ánh về tình trạng dạy thêm, học thêm và Bộ quản lý khá chặt vấn đề này, bạn đọc cho rằng việc cộng điểm IELTS có thể tạo điều kiện cho hoạt động dạy thêm, học thêm. Theo đó, giáo viên ở trường có thể chỉ dạy vừa phải, dành thời gian và sức lực để luyện IELTS cho học sinh.

Thứ tư, bạn đọc cho rằng học ngoại ngữ là cần thiết nhưng cần phù hợp với nhu cầu công việc. Nếu một người có chứng chỉ IELTS nhưng công việc không yêu cầu tiếng anh mà cần tiếng Việt, tiếng trung hoặc ngoại ngữ khác thì chứng chỉ này có thể không phát huy giá trị.

Theo bạn đọc này, chỉ cần có khả năng giao tiếp phù hợp, không nhất thiết phải đạt trình độ IELTS 6.0-9.0. Thay vào đó, học sinh, sinh viên có thể dành thời gian học sâu hơn về ngoại ngữ chuyên ngành khi vào đại học và đi làm để phù hợp với nhu cầu thực tế.

Đưa ra góc nhìn trung lập, bạn đọc Hoàng Nguyễn cho rằng việc bỏ điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ giống như con dao hai lưỡi.

Theo bạn đọc này, việc bỏ điểm cộng có thể giúp giảm áp lực học tập cho học sinh, đồng thời giảm gánh nặng quản lý nhà nước đối với chất lượng các chứng chỉ nước ngoài. Cách làm này cũng góp phần tạo sự cạnh tranh công bằng hơn và tiết kiệm chi phí xã hội khi phụ huynh, học sinh không còn phải chạy đua theo các chứng chỉ.

Tuy nhiên, việc bỏ hoàn toàn cơ chế khuyến khích có thể khiến phong trào học tiếng anh suy giảm. Vì vậy, Bộ GD&ĐT cần nghiên cứu xây dựng hệ thống chứng chỉ phù hợp, có cơ chế ưu tiên hoặc miễn thi đối với một số chứng chỉ nhất định, chẳng hạn chứng chỉ tiếng anh giao tiếp. Điều này vừa duy trì động lực học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục, vừa góp phần thực hiện mục tiêu đưa tiếng anh trở thành ngôn ngữ thứ hai theo định hướng của Chính phủ.

Hiểu mục tiêu của đề xuất, bạn đọc Đặng Thị Hồng Ngọc cho rằng nếu bỏ cơ chế cộng điểm IELTS trong xét tuyển đại học, Bộ GD&ĐT cần có lộ trình 2-3 năm để thí sinh và phụ huynh có thời gian chuẩn bị.

"Không thể nói bỏ là bỏ, trong khi các em đã nỗ lực, cố gắng rất nhiều để có được chứng chỉ. Xu hướng các trường đại học hàng đầu trên thế giới đều xét tuyển bằng các chứng chỉ năng lực quốc tế như IELTS, SAT, không lẽ Việt Nam lại đi ngược xu thế chỉ để đảm bảo công bằng cho tất cả các thí sinh và áp dụng giống như các kỳ thi khắc nghiệt hơn 20 năm trước", bạn đọc nêu ý kiến.

Dự kiến từ năm 2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ không còn cho phép cộng tối đa 3 điểm đối với chứng chỉ IELTS, giải học sinh giỏi hay các tiêu chí bổ sung trong xét tuyển đại học. Thông tin này lập tức thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận, phụ huynh và học sinh trên báo Dân trí. Đa số ý kiến phản hồi cho rằng việc hủy bỏ chế độ điểm cộng là bước đi cần thiết nhằm khôi phục sự công bằng thực sự cho kỳ thi toàn quốc. Nhiều độc giả như bạn đọc Phan Trinh và Nghia Vu nhận định việc cộng điểm vô hình trung tạo ra sự bất bình đẳng giữa những thí sinh có điều kiện tài chính để luyện thi ngoại ngữ và phần còn lại. Một số ý kiến như bạn đọc Cường cho rằng nếu có khuyến khích thì chỉ nên áp dụng mức cộng 0.5 đến 1 điểm đối với các ngành học chuyên về ngôn ngữ thay vì các ngành kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc quy đổi chứng chỉ chỉ nên dừng lại ở mức điều kiện xét đạt hoặc không đạt để tránh làm sai lệch kết quả đánh giá năng lực gốc của học sinh. Phân tích sâu hơn, độc giả Quynh Tran chỉ ra rằng chính sách điểm cộng IELTS thời gian qua đã vô tình gia tăng áp lực học tập, chi phí luyện thi cho gia đình và tạo điều kiện cho hoạt động dạy thêm phát triển. Đồng thời, chất lượng chương trình ngoại ngữ phổ thông cùng giá trị thực tế của chứng chỉ trong các ngành nghề không chuyên tiếng Anh cũng bị đặt nhiều dấu hỏi. Chính vì vậy, nhiều ý kiến kiến nghị cơ quan quản lý cần áp dụng lộ trình từ 2 đến 3 năm để phụ huynh cùng thí sinh kịp thời điều chỉnh kế hoạch học tập.