Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (1719) được thực hiện, góp phần "thay da đổi thịt" nhiều khu vực ở các địa bàn còn nhiều khó khăn.
Trong chương trình này, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn gắn với phát triển du lịch. Tuy nhiên, các địa phương cần làm gì để phát triển du lịch, tạo sinh kế mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá độc đáo?
Ông Phạm Hải Quỳnh (giữa) đánh giá, để xây dựng được mô hình du lịch cộng đồng thì sự tham gia của người dân địa phương rất quan trọng (Ảnh: Mạnh Quân).
Sự tham gia của chính người dân
Trong một lần đồng hành xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại bản Nà Sự, huyện Nậm Pồ (cũ), tỉnh Điện Biên, ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á, nhớ hình ảnh hàng trăm người dân cùng góp sức, biến một bản làng thành điểm đến.
Theo ông Quỳnh, chỉ trong 6 ngày, mô hình du lịch cộng đồng tại Nà Sự đã được thiết lập để có thể đón khách. Huyện huy động 2.736 ngày công của người dân từ nhiều bản làng xung quanh, có những ngày cao điểm lên tới 500 người cùng tham gia.
"Ngay trong ngày đầu mở cửa, có tới 1.000 người đăng ký trải nghiệm các dịch vụ tại đây. Đó là một thành công ngoài tưởng tượng", ông Quỳnh kể.
Điều đáng chú ý, theo chuyên gia này, không nằm ở con số khách trong ngày đầu tiên mà ở cách người dân cùng tham gia tạo ra điểm đến.
Từ câu chuyện Nà Sự, ông Quỳnh cho rằng, khi phát triển du lịch vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa phương không nên chỉ nghĩ đến việc xây dựng một vài cơ sở lưu trú rồi đưa khách về.
Người dân tham gia vào phát triển du lịch ở bản Nà Sự (Ảnh: Du lịch Nà Sự).
"Nếu chỉ tập trung xây dựng một vài homestay để đón khách rồi coi những hộ trực tiếp làm du lịch là nhóm duy nhất được hưởng lợi thì chưa đủ", ông nói.
Một du khách đến bản làng có thể chi tiền cho phòng nghỉ, ăn uống, thuê xe, mua đồ lưu niệm, nông sản, sản phẩm thủ công hoặc sử dụng các dịch vụ trải nghiệm. Dòng tiền từ một vị khách có thể tạo sinh kế cho rất nhiều hộ dân, thay vì chỉ chảy vào một số gia đình có nhà làm homestay.
"Người không trực tiếp làm du lịch vẫn có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị và được hưởng lợi từ lượng khách đến địa phương", ông Quỳnh phân tích.
Theo ông, đây mới là cách nhìn đầy đủ hơn về du lịch cộng đồng. Người dân không nhất thiết phải bỏ nghề truyền thống để chuyển hẳn sang làm du lịch. Ngược lại, chính những sinh kế đang tồn tại như trồng rau, chăn nuôi, làm nghề thủ công, chế biến thực phẩm... có thể được kết nối với hoạt động du lịch để tăng giá trị.
Biến sản phẩm thành tiềm năng du lịch
Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng mạnh của thị trường khách quốc tế. Trong 9 tháng năm 2026, cả nước đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 14,7 triệu lượt khách đi bằng đường hàng không, 2,7 triệu lượt đi bằng đường bộ và 243.400 lượt đi bằng đường biển.
Trong bối cảnh lượng khách tiếp tục tăng, bài toán đặt ra với các vùng dân tộc thiểu số, bên cạnh việc đưa khách tới, còn cần giữ lại nhiều giá trị ở địa phương.
Một góc của làng Lô Lô Chải với lối kiến trúc đặc trưng trong vùng (Ảnh: Tuấn Đào).
Theo ông Quỳnh, một sản phẩm sinh kế nếu được hoàn thiện đúng cách hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm du lịch.
Cụ thể, một loại mật ong, món ăn, sản phẩm dệt thủ công hay nông sản vốn chỉ được bán trong phạm vi bản làng có thể được chuẩn hóa về chất lượng, bao bì, câu chuyện sản phẩm, đưa lên các nền tảng số để tiếp cận khách hàng ở xa.
Theo cách này, người dân không phải chờ du khách đến tận nơi mới bán được hàng. Một sản phẩm được làm ra ở bản làng có thể bán qua mạng, qua doanh nghiệp lữ hành, cửa hàng đặc sản hoặc các kênh phân phối khác. Khi khách trực tiếp đến địa phương, họ tiếp tục trở thành nhóm khách hàng quan trọng của sản phẩm đó.
Cách làm này cũng giúp giảm sự phụ thuộc của người dân vào lượng khách đến điểm du lịch.
Nếu chỉ trông chờ vào khách lưu trú, những gia đình không có homestay rất dễ đứng ngoài cuộc. Ngược lại, khi mỗi hộ có thể cung cấp một loại sản phẩm hoặc dịch vụ, nhiều người cùng tham gia vào chuỗi giá trị, du lịch sẽ trở thành một phần của hệ sinh thái sinh kế rộng hơn.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong chương trình này, Dự án 6 được xác định với mục tiêu bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch.
Nhưng theo ông Quỳnh, bảo tồn không nên được hiểu đơn thuần là đưa một giá trị văn hóa vào không gian trưng bày. Văn hóa chỉ thực sự có sức sống khi cộng đồng tiếp tục thực hành, truyền dạy và có thể tạo ra sinh kế từ chính những giá trị đó.
Người dân phải là chủ thể, không chỉ là người phục vụ
Thực tế tại một số làng du lịch cộng đồng cho thấy, khi người dân được đặt ở vị trí trung tâm, du lịch có thể trở thành động lực để bảo tồn văn hóa và cải thiện đời sống.
Tân Hóa, Quảng Bình, là một ví dụ. Từ khi các hoạt động du lịch được triển khai, người dân địa phương có thêm việc làm và chất lượng cuộc sống được cải thiện. Mô hình tại đây được xây dựng trên sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cộng đồng, trong đó người dân từng bước được đào tạo để phục vụ khách và chuyển từ tham gia sang làm chủ một số dịch vụ.
Năm 2022, Tân Hóa đón 8.001 khách, mức cao kỷ lục của làng vào thời điểm đó.
Lô Lô Chải ở Hà Giang cũng được UN Tourism ghi nhận bởi cách cộng đồng gìn giữ những ngôi nhà trình tường, trang phục, ngôn ngữ, phong tục và biến đời sống bản địa thành trải nghiệm cho du khách. Quỳnh Sơn ở Lạng Sơn gây chú ý với hơn 400 ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày cùng các hoạt động trải nghiệm văn hóa, ẩm thực và đời sống nông nghiệp.
Du khách trải nghiệm cuộc sống cùng bà con ở làng du lịch Thái Hải (Ảnh: T.H.)
Điểm chung của những mô hình này là du khách không chỉ đến để "xem" một bản làng. Họ được sống trong không gian ấy, ăn món ăn của người dân, tìm hiểu nghề truyền thống, nghe câu chuyện của cộng đồng và tham gia vào các hoạt động đời sống.
Theo ông Quỳnh, đó cũng là điều giúp du lịch cộng đồng khác với việc sân khấu hóa văn hóa.
Ông cho rằng nếu chỉ tổ chức những buổi biểu diễn theo giờ để phục vụ đoàn khách, nguy cơ biến văn hóa thành một "món hàng" là rất lớn. Thay vào đó, địa phương cần tạo điều kiện để người dân tiếp tục thực hành văn hóa như một phần tự nhiên của đời sống, rồi mở ra cơ hội để du khách được trải nghiệm.
"Người dân không chỉ cần tự hào về bản làng, truyền thống và văn hóa của mình mà còn phải biết cách tổ chức, vận hành để đón khách. Khi cộng đồng thực sự làm chủ mô hình, các dự án du lịch mới có khả năng phát triển bền vững và lâu dài", ông Quỳnh nói.
Theo chuyên gia này, người ngoài có thể hỗ trợ địa phương ở giai đoạn đầu, từ tư vấn, thiết kế sản phẩm, đào tạo đến kết nối thị trường. Tuy nhiên, về lâu dài, chính người dân địa phương và thế hệ tiếp nối phải có khả năng duy trì và phát triển mô hình.
Bởi nếu một điểm du lịch chỉ hoạt động tốt khi có doanh nghiệp hoặc một dự án bên ngoài đứng sau, tính bền vững sẽ bị hạn chế.
Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu 25 triệu khách quốc tế trong năm 2026 và xa hơn là những mục tiêu tăng trưởng cao hơn, câu chuyện với các bản làng vùng cao vì thế không chỉ là "đón được bao nhiêu khách".
Một điểm đến có thể đón ít khách hơn nhưng nếu khách ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và số tiền đó được phân bổ tới nhiều hộ dân thì giá trị tạo ra cho cộng đồng có thể lớn hơn. Khi đó, một người trồng rau, nuôi gà, làm mật ong, dệt vải hay chế biến món ăn truyền thống đều có thể trở thành một phần của ngành du lịch.
Du lịch không còn là câu chuyện của riêng những người có homestay. Nó trở thành một chuỗi sinh kế mà ở đó, chính bản làng, văn hóa và người dân là những chủ thể tạo ra giá trị.