Dự thảo sửa đổi Quy chế tuyển sinh đại học đang thu hút sự quan tâm khi tiếp tục đề xuất thu hẹp phương thức xét tuyển. Theo phương án đang được lấy ý kiến, từ năm 2027, mỗi ngành hoặc chương trình đào tạo được sử dụng tối đa 3 phương thức; từ năm 2028 dự kiến còn một phương thức.
Dự thảo đồng thời đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định đối với thành tích, chứng chỉ ngoại ngữ hoặc các tiêu chí bổ sung.
Lý giải cho những đề xuất này, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho rằng mức độ tương đương giữa các phương thức xét tuyển chưa đồng đều, khiến việc quy đổi giữa các thang đo khó bảo đảm chính xác. Với chứng chỉ ngoại ngữ, Bộ không đặt vấn đề loại bỏ mà hướng tới việc mỗi năng lực được đánh giá đúng vai trò, tránh tính trùng hoặc tạo lợi thế không phù hợp với yêu cầu của ngành, chương trình.

Thí sinh dự kỳ thi tốt nghiệp THPT (Ảnh minh họa: DT)
Mục đích ấy đáng được ghi nhận. Tuyển sinh đại học cần hướng tới việc đánh giá đúng năng lực người học, giảm những chênh lệch khó đối sánh giữa các phương thức và tạo ra một mặt bằng đánh giá rõ ràng hơn. Đây cũng là tinh thần phù hợp với định hướng tại Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị khi đề cập việc đổi mới tuyển sinh đại học phải theo hướng đánh giá đúng năng lực người học, kiểm soát thống nhất chuẩn đầu vào và bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng.
Nhưng một chính sách tuyển sinh không chỉ cần trả lời câu hỏi "thay đổi điều gì?", mà còn phải trả lời "thay đổi từ khi nào và áp dụng cho ai?". Đây mới là điều cần được cân nhắc kỹ trong lần sửa đổi này.
Tuyển sinh đại học là một quá trình chuẩn bị kéo dài nhiều năm. Học sinh bắt đầu lựa chọn môn học, xác định nhóm ngành, tìm hiểu trường, ôn tập, tham gia các kỳ thi riêng hay học chứng chỉ từ khá sớm. Mỗi thay đổi trong quy chế vì thế không chỉ tác động đến kỳ đăng ký xét tuyển cuối cùng, mà có thể tác động ngược trở lại những lựa chọn các em đã thực hiện trước đó.
Điều này đặc biệt đáng lưu ý với học sinh sinh năm 2009, nhóm dự kiến dự tuyển đại học năm 2027 – cũng là năm đầu tiên phương án giới hạn phương thức tuyển sinh theo dự thảo được áp dụng.
Một học sinh có thể đã dành hai, ba năm để học và thi chứng chỉ ngoại ngữ với kỳ vọng chứng chỉ đó được sử dụng trong tuyển sinh. Một em khác có thể lựa chọn tổ hợp môn, cách học và kế hoạch ôn tập dựa trên thông tin tuyển sinh mà các trường đã công bố.
Khi quy định thay đổi, những chuẩn bị ấy không nhất thiết trở nên vô giá trị. Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được sử dụng để quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ trong một số trường hợp. Tuy nhiên, nếu điểm cộng theo quy định riêng của cơ sở đào tạo không còn được sử dụng, lợi thế mà thí sinh dự tính từ trước chắc chắn sẽ thay đổi.
Vấn đề ở đây không phải là nên giữ hay bỏ một loại điểm cộng. Vấn đề là "thời điểm thay đổi có đủ để người học điều chỉnh kế hoạch hay không".
Không chỉ thí sinh, các cơ sở đào tạo cũng phải liên tục điều chỉnh phương án tuyển sinh theo quy định mới.
Chỉ riêng năm 2026, Thông tư 06/2026 của Bộ GD&ĐT về quy chế tuyển sinh đại học được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/2. Đến ngày 19/4, Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành Thông tư 34 về xác định số lượng tuyển sinh.
Trong khi đó, các cơ sở đào tạo phải xây dựng phương án tuyển sinh, xác định phương thức, tổ hợp, quy tắc quy đổi, chuẩn bị hệ thống dữ liệu và công bố thông tin cho thí sinh. Mỗi lần quy định thay đổi, nhà trường không chỉ sửa một văn bản mà còn phải điều chỉnh cả quy trình phía sau.
Đó là chưa kể từ năm 2025, quy chế tuyển sinh đã có những thay đổi đáng kể như bỏ xét tuyển sớm, yêu cầu sử dụng kết quả học tập cả năm lớp 12 trong phương thức học bạ và đặt ra yêu cầu quy đổi tương đương giữa các phương thức. Năm 2026 tiếp tục có những điều chỉnh về số nguyện vọng, phương thức xét học bạ và điểm cộng.
Cải cách liên tục là điều khó tránh khỏi khi hệ thống tuyển sinh đang được hoàn thiện. Nhưng với một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hàng triệu học sinh, phụ huynh và hàng trăm cơ sở đào tạo, "ổn định cũng là một giá trị của chính sách".
Tất nhiên, ổn định không có nghĩa là giữ nguyên những điều chưa hợp lý. Ổn định có thể được hiểu là khi cần thay đổi, chính sách phải cho người học và cơ sở đào tạo đủ thời gian biết trước, chuẩn bị và thích ứng.
Nếu mục tiêu là đánh giá đúng năng lực người học và tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng, thì chính sách cũng cần tránh tạo ra một nghịch lý: "quy định được thiết kế để tăng tính công bằng nhưng thời điểm áp dụng lại khiến những người đã chuẩn bị theo quy định cũ rơi vào thế bị động".
Tuyển sinh đại học có thể tiếp tục đổi mới. Giảm những phương thức không còn cần thiết, đưa các tiêu chí đánh giá về đúng giá trị, hạn chế những lợi thế khó so sánh hay giảm thủ tục cho thí sinh đều là những hướng đáng được xem xét.
Nhưng mỗi lần thay đổi cần có một khoảng đệm đủ rộng. Bởi phía sau mỗi phương thức xét tuyển không chỉ là một điều khoản trong quy chế. Đó còn là lựa chọn môn học của một học sinh từ lớp 10, là thời gian ôn luyện của một thí sinh, là khoản chi phí của một gia đình và là kế hoạch tuyển sinh mà một trường đại học đã chuẩn bị.
Cải cách có thể cần nhanh để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nhưng lộ trình áp dụng cần đủ chậm, đủ rõ để cả hệ thống có thể chủ động thích ứng. Khi đó, chính sách mới mới có thể đi vào thực tế một cách thuận lợi và hạn chế những xáo trộn không cần thiết.
Tác giả: Phạm Anh là Cử nhân Báo chí, có hơn 15 năm kinh nghiệm làm báo trong lĩnh vực giáo dục. Hiện tác giả là phóng viên phụ trách mảng giáo dục của báo Dân trí tại TPHCM.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!