Bỏ qua điều hướng

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Vì sao lập dễ, hoạt động khó?

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Vì sao lập dễ, hoạt động khó?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Việc thành lập doanh nghiệp ngày càng thuận lợi nhưng đi vào hoạt động vẫn phải qua nhiều “cửa”. Chuyên gia đề xuất cần liên thông thủ tục, chia sẻ dữ liệu để doanh nghiệp không phải tự xoay xở…

Trong bức tranh gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường 7 tháng đầu năm với góc nhìn của những người trong cuộc, các chuyên gia, luật sư tiếp tục phân tích những nguyên nhân khiến doanh nghiệp giải thể và đề xuất giải pháp gỡ khó.

“Mắc kẹt” giữa các thủ tục

Từ thực tiễn tư vấn doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thành Trung, Giám đốc hãng luật Nam Sơn LST, Đoàn Luật sư TPHCM, cho rằng cần nhìn con số hơn 38.800 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường một cách đầy đủ. Trong đó có doanh nghiệp giải thể nhưng cũng có một lượng rất lớn doanh nghiệp chỉ tạm ngừng hoạt động. Không phải tất cả doanh nghiệp đều rời thị trường do thủ tục hành chính hay môi trường pháp lý.

Tuy nhiên, từ thực tiễn tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí tuân thủ pháp luật vẫn đang là một áp lực rất đáng kể, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại TPHCM, khó khăn của doanh nghiệp không chỉ đến từ quy định pháp luật mà còn từ cách các quy định được áp dụng và thực hiện trên thực tế.

Luật sư Trung phân tích, nghịch lý hiện nay là thành lập doanh nghiệp tương đối dễ nhưng để đưa doanh nghiệp vào hoạt động lại khó. Đăng ký thành lập đã được số hóa và thuận tiện hơn, nhưng khi triển khai dự án, nhà xưởng hoặc mặt bằng, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục về đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và giấy phép chuyên ngành...

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Vì sao lập dễ, hoạt động khó? - 1

Doanh nghiệp và người dân làm thủ tục ở cơ quan thuế TPHCM (Ảnh: Lam Giang).

Từng thủ tục đều có mục đích và cần thiết, nhưng khi không được sắp xếp hợp lý, doanh nghiệp dễ rơi vào cảnh “muốn làm việc này thì phải có giấy tờ của việc kia, nhưng muốn có giấy tờ kia lại phải làm xong việc này”!

“Khi đó, chi phí lớn nhất không chỉ là lệ phí hành chính. Chi phí thực sự là thời gian chờ đợi, chi phí vốn, tiền thuê mặt bằng, lương nhân sự, cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ và sự bất định trong kế hoạch đầu tư. Một dự án chậm 6 tháng hay một năm đôi khi gây thiệt hại cho doanh nghiệp lớn hơn rất nhiều so với toàn bộ các khoản phí chính thức mà họ phải nộp”, luật sư Trung nêu thực tế.

Một vấn đề khác là cách hiểu và áp dụng quy định đôi khi chưa thống nhất. Cùng một quy định nhưng ở những cơ quan hoặc địa bàn khác nhau, cách giải quyết hồ sơ có thể không hoàn toàn giống nhau. Với doanh nghiệp, quy định chặt chẽ không phải lúc nào cũng đáng sợ. Điều khiến họ khó khăn hơn là không biết chắc hồ sơ của mình sẽ được yêu cầu những gì, giải quyết trong bao lâu và kết quả cuối cùng sẽ như thế nào?

Thực tế, nhiều vướng mắc của doanh nghiệp còn xuất phát từ việc mỗi cơ quan chỉ giải quyết phần việc của mình. Một dự án có thể liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và nhiều lĩnh vực khác. Mỗi cơ quan đều làm đúng phần việc được giao, nhưng lại chưa có một đầu mối thực sự đứng ra kết nối toàn bộ quá trình. Vì vậy, doanh nghiệp phải tự đi lại giữa nhiều cơ quan, tự theo dõi từng thủ tục và tự xử lý những phần việc nằm ở giữa các cơ quan.

TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia Chính sách công, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) nói rằng khu vực doanh nghiệp đang khó khăn hơn so với năm ngoái. Áp lực đầu tiên đến từ sự gia tăng của chi phí kinh doanh. Những bất ổn kinh tế và địa chính trị toàn cầu, chiến tranh, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá cả đã khiến chi phí đầu vào tăng cao.

Cụ thể, chi phí nguyên vật liệu, nhân công, đặc biệt là nhân công có chất lượng cao, đều tăng. Trong khi đó, những doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh hạn chế sẽ rất khó cạnh tranh với các doanh nghiệp quy mô lớn hoặc doanh nghiệp FDI, vốn có lợi thế về nguồn lực, đơn hàng và khả năng tham gia các dự án lớn…

Gỡ khó những thủ tục chồng chéo

Một sức ép khác được TS Nguyễn Quốc Việt nêu đến từ quá trình thay đổi thể chế và chính sách trong một số trường hợp doanh nghiệp không kịp thích nghi, nguy cơ bị xử phạt cao hơn. Cụ thể, dù các yêu cầu mới về thuế, hóa đơn, chứng từ, chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc... là cần thiết, nhưng lại tạo ra gánh nặng lớn hơn đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh. Điều này không chỉ tạo ra tổn thất về tài chính mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và sự tự tin trong đầu tư, kinh doanh.

Thực tế, trong những chương trình đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp ở TPHCM, các chủ đề về thuế luôn nhận được sự quan tâm đông đảo của doanh nghiệp. Những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng chính sách thuế, hoàn thuế, hóa đơn điện tử, cũng như triển khai các quy định mới của ngành thuế, được nhiều doanh nghiệp phản ánh.

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Vì sao lập dễ, hoạt động khó? - 2

Lãi suất cho vay tăng cũng là một trong những áp lực cho doanh nghiệp thời gian qua (Ảnh: Mạnh Quân).

Trao đổi với phóng viên Dân trí, TS Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM, nói rằng thuế là một trong những vấn đề khó khăn của doanh nghiệp. Theo ông, thực tế doanh nghiệp gặp nhiều áp lực khi muốn giải thể phải hoàn thành nghĩa vụ thuế, trong đó có những giao dịch phát sinh từ nhiều năm trước phải kê khai, kiểm toán lại rất khó khăn. Doanh nghiệp chậm nộp thuế cũng bị phạt ngay, trong khi với tinh thần cải cách và hỗ trợ nên có cảnh báo, thông báo trước để doanh nghiệp chủ động xử lý.

“Cần triển khai các giải pháp để doanh nghiệp có thể chấp hành một cách thuận lợi, hỗ trợ đầu ra cho doanh nghiệp và triển khai các khóa đào tạo về chuyển đổi số. Nhà nước cần tạo những cơ chế thúc đẩy thuận lợi, giảm thuế hoặc đơn giản hơn nữa trong thủ tục liên quan thuế”, TS Thắng nói.

Chi phí vốn và rào cản trong tiếp cận vốn cũng là yếu tố thách thức lớn cho các doanh nghiệp. Theo TS Việt, dù thị trường vẫn có nguồn vốn, doanh nghiệp đang phải đối mặt với mặt bằng lãi suất và điều kiện tín dụng khó khăn hơn, khiến khả năng tiếp cận bị hạn chế.

Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, nhiều ý kiến cho rằng họ cần không chỉ cần thêm chính sách hỗ trợ, mà quan trọng còn là một môi trường thủ tục đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán.

Luật sư Nguyễn Thành Trung cho rằng, một môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, không chỉ cần giảm giấy tờ hay giảm lệ phí. Quan trọng hơn là phải làm cho các thủ tục liên quan được kết nối với nhau, quy định được áp dụng thống nhất và trách nhiệm của từng cơ quan được xác định rõ. Khi doanh nghiệp biết mình phải làm gì, làm ở đâu, mất bao lâu và tốn khoảng bao nhiêu chi phí, họ mới có thể chủ động tính toán và yên tâm đầu tư, kinh doanh.

Với TPHCM, cần chuyển mạnh từ tư duy “một cửa tiếp nhận hồ sơ” sang “một quy trình giải quyết công việc”. Doanh nghiệp không nên phải tự liên hệ từng cơ quan, bổ sung từng loại giấy tờ và xử lý những yêu cầu khác nhau. Với các thủ tục liên quan đến đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy, các cơ quan cần phối hợp xử lý song song thay vì chờ xong thủ tục này mới bắt đầu thủ tục khác. Quyết định 44/2026/QĐ-UBND về thủ tục đất đai là một bước tiến, nhưng hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng thời gian giải quyết thực tế và sự thống nhất trong quá trình thực hiện.

“Cần thực hiện đúng nguyên tắc “Nhà nước đã có dữ liệu thì không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại”. Khi thông tin về đăng ký doanh nghiệp, đất đai, thuế, bảo hiểm đã có trong hệ thống của cơ quan nhà nước, các cơ quan cần chủ động khai thác và chia sẻ dữ liệu. Doanh nghiệp không nên phải nhiều lần nộp lại những giấy tờ mà Nhà nước đã có”, luật sư Trung nêu.

Một yếu tố khác, theo các chuyên gia là cần công khai toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ. Doanh nghiệp có thể chấp nhận một thủ tục mất 30 ngày nếu biết rõ thời hạn và tiến độ. Vì vậy, hệ thống điện tử cần cho phép doanh nghiệp biết hồ sơ đang được cơ quan nào xử lý, đang ở bước nào, còn vướng mắc gì và thời hạn giải quyết đến đâu.

Nếu hồ sơ quá hạn, cơ quan xử lý phải giải thích rõ lý do. Việc yêu cầu bổ sung hồ sơ cũng cần được thực hiện đầy đủ, rõ ràng ngay từ đầu, hạn chế tình trạng bổ sung nhiều lần.

Sự kiện 'Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Vì sao lập dễ, hoạt động khó?' vừa được Dân Trí cập nhật, mang lại nguồn dữ liệu thực tế cho bạn đọc. Đáng chú ý, việc thành lập doanh nghiệp ngày càng thuận lợi nhưng đi vào hoạt động vẫn phải qua nhiều “cửa”, phản ánh rõ nét những chuyển động thực tế đang diễn ra. Diễn biến tiếp theo của sự việc đang được các cơ quan chức năng phối hợp làm rõ để gửi đến độc giả.