Bỏ qua điều hướng
•

Giá trị thực tiễn của dữ liệu khoa học

Giá trị thực tiễn của dữ liệu khoa học
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa đưa vào vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm kết nối, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu và phát triển công nghệ.  Gỡ vướng trong số hóa dữ liệu Bộ Công thương: Đổi mới phương thức quản lý nhiệm vụ khoa học, công...

Hệ thống được truy cập tại địa chỉ https://sti.gov.vn, là một trong các nền tảng số dùng chung quốc gia theo Quyết định số 1132/ QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Nền tảng kết nối thông tin về tổ chức, nhà khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, công bố khoa học, sở hữu trí tuệ, công nghệ cao và chuyển giao công nghệ. Với 137 chỉ tiêu thống kê ngành và 17 chỉ tiêu thống kê quốc gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, hệ thống góp phần hình thành nguồn dữ liệu thống nhất, phục vụ phân tích, đánh giá và hoạch định chính sách.

Việc tập trung các nguồn thông tin góp phần khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, giúp cơ quan quản lý có thêm căn cứ ra quyết định, nhà khoa học thuận lợi hơn trong tìm kiếm đối tác và nguồn lực, còn doanh nghiệp dễ tiếp cận công nghệ phù hợp. Hiệu quả của hệ thống phụ thuộc vào chất lượng và khả năng khai thác dữ liệu. Thông tin thiếu chính xác, chậm cập nhật hoặc trùng lặp sẽ làm giảm giá trị của nền tảng.

Bởi vậy, chất lượng dữ liệu phải được coi là yếu tố cốt lõi. Mỗi nguồn dữ liệu cần xác định đơn vị chịu trách nhiệm, thời điểm cập nhật và cơ chế xác thực. Chuẩn hóa, làm sạch, kiểm chứng phải trở thành công việc thường xuyên, bảo đảm thông tin đúng, đủ, tin cậy và có khả năng liên thông. Nếu chỉ được bổ sung theo từng đợt thì dữ liệu sẽ nhanh chóng lạc hậu, làm giảm giá trị của cả hệ thống.

Khả năng chia sẻ và tái sử dụng cũng quyết định hiệu quả của dữ liệu. Dữ liệu đã có thì không yêu cầu khai báo lại, thông tin đã được xác thực phải được chia sẻ, sử dụng nhiều lần. Điều này sẽ góp phần giảm thủ tục, hạn chế một nội dung phải kê khai trên nhiều biểu mẫu, nền tảng, giúp nhà khoa học có thêm thời gian cho nghiên cứu, sáng tạo.

Dữ liệu được kết nối và tái sử dụng còn mở đường cho đổi mới quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Thay vì chủ yếu theo dõi kinh phí, tiến độ và nghiệm thu, hệ thống phải cho biết kết quả nghiên cứu được ứng dụng ở đâu, tạo ra sản phẩm gì và đóng góp ra sao đối với phát triển kinh tế-xã hội. Dữ liệu phải được quản lý từ đề xuất đến ứng dụng, đánh giá tác động. Đây là cơ sở để hạn chế đầu tư trùng lặp, xác định nhiệm vụ ưu tiên và phân bổ nguồn lực dựa trên bằng chứng.

Hệ thống cũng được kỳ vọng rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Nhiều doanh nghiệp chưa biết viện nghiên cứu, trường đại học có kết quả nào có thể ứng dụng, không ít nhóm nghiên cứu lại thiếu thông tin về nhu cầu thực tiễn. Kết nối hai phía sẽ tạo thêm cơ hội hợp tác, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm vào sản xuất, đời sống.

Cùng với mở rộng kết nối, hệ thống phải bảo đảm an toàn, bảo mật và phân quyền khai thác. Mở dữ liệu không đồng nghĩa chia sẻ mọi thông tin cho mọi đối tượng. Mỗi nhóm dữ liệu cần được xác định phạm vi tiếp cận, mục đích sử dụng và trách nhiệm bảo vệ, vừa tạo thuận lợi cho khai thác, vừa bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ và bí mật nghiên cứu.

HIỆP ĐỨC

Việc Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức đưa vào vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại địa chỉ https://sti.gov.vn đánh dấu bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa công tác quản lý ngành. Nền tảng số dùng chung quốc gia này được thành lập theo Quyết định số 1132/QĐ-TTg ban hành ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ, quy tụ 137 chỉ tiêu thống kê ngành cùng 17 chỉ tiêu thống kê quốc gia. Sự xuất hiện của hệ thống góp phần kết nối đồng bộ các nguồn lực dữ liệu phân tán về tổ chức, nhà khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, công bố khoa học, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ cao. Giá trị cốt lõi của hệ thống phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng dữ liệu cùng khả năng liên thông, tái sử dụng nguồn thông tin đã được kiểm chứng. Việc chuẩn hóa, làm sạch và xác thực dữ liệu thường xuyên giúp xóa bỏ cơ chế khai báo trùng lặp trên nhiều biểu mẫu, cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính cho đội ngũ nghiên cứu. Đồng thời, nền tảng số hóa này cho phép cơ quan quản lý chuyển đổi phương thức giám sát nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ việc chỉ theo dõi tiến độ giải ngân sang đánh giá hiệu quả ứng dụng thực tế. Thông qua việc công khai và kết nối dữ liệu minh bạch, hệ thống được kỳ vọng sẽ làm cầu nối rút ngắn khoảng cách giữa công tác nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu với nhu cầu sản xuất thực tiễn của doanh nghiệp. Bên cạnh việc tạo môi trường thuận lợi để thương mại hóa các kết quả sáng tạo, nền tảng cũng chú trọng thiết lập hạ tầng an toàn thông tin và phân quyền khai thác nghiêm ngặt. Việc xác định rõ phạm vi tiếp cận cho từng nhóm đối tượng giúp bảo vệ tối đa quyền sở hữu trí tuệ cũng như bí mật nghiên cứu khoa học.