Bỏ qua điều hướng
•

Top nhóm ngành có điểm chuẩn đại học cao nhất năm 2026

Top nhóm ngành có điểm chuẩn đại học cao nhất năm 2026
Nguồn ảnh: VietnamNet

Theo Bộ GD-ĐT, tuyển sinh đại học năm 2026 ghi nhận sự dịch chuyển đáng chú ý vào STEM và các lĩnh vực chiến lược. Nhiều nhóm ngành có điểm chuẩn trung vị rất cao, đạt mức 25. Trong đó nhóm ngành có điểm chuẩn trung bị thấp nhất là 15 điểm.

STEM tăng cả số ngành và thí sinh trúng tuyển

Theo số liệu tuyển sinh năm 2026, nhóm ngành STEM có 2.319 lượt ngành, tăng 299 lượt, tương đương 14,8% so với năm 2025. Số thí sinh trúng tuyển đạt 241.929, tăng 4.104 người, tương đương 1,7%, tại 208 cơ sở đào tạo. Điểm chuẩn trung vị của nhóm STEM năm nay là 18,50 điểm, giảm so với mức 19 điểm của năm 2025.

Tuy nhiên, trong nhóm STEM có sự phân bổ lại giữa các lĩnh vực. Máy tính và công nghệ thông tin giảm số thí sinh trúng tuyển dù số lượt ngành tăng, trong khi các nhóm Công nghệ kỹ thuật, Kỹ thuật và Kiến trúc - xây dựng đều tăng.

Đáng chú ý, các lĩnh vực xây dựng, kỹ thuật then chốt và khoa học cơ bản có tốc độ tăng đáng kể trong phạm vi các ngành thuộc chính sách hỗ trợ. Riêng Khoa học cơ bản có 96 lượt ngành, tăng 37,1%, với 7.784 thí sinh trúng tuyển, tăng 26,1% so với năm 2025.

Sự dịch chuyển không chỉ thể hiện ở quy mô tuyển sinh mà còn ở một số phân khúc điểm chuẩn cao.

Ở ngành Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, số thí sinh trúng tuyển vào các lượt ngành có điểm chuẩn trên 25 điểm tăng từ 2.997 lên 3.497. Với ngưỡng từ 22,50 điểm trở lên, số trúng tuyển tăng từ 6.324 lên 7.208.

Unknown 2.jpg
Sinh viên Trường ĐH Tài chính Marketing.

Ở nhóm Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông, số thí sinh trúng tuyển vào các lượt ngành trên 25 điểm tăng từ 3.900 lên 3.950; ở ngưỡng từ 22,50 điểm trở lên tăng từ 6.744 lên 7.278.

Nhóm Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường có biến động đáng chú ý ở phân khúc trên 25 điểm. Số thí sinh trúng tuyển tăng từ 313 lên 1.270.

Trong khi đó, Xây dựng lần đầu ghi nhận 410 thí sinh trúng tuyển vào các lượt ngành có điểm chuẩn trên 25 điểm.
Ở nhóm chương trình đào tạo chuyên sâu về Xây dựng - Kiến trúc, năm 2026 có 370 lượt ngành, tăng 43 lượt, tương đương 13,1%, với 32.434 thí sinh trúng tuyển, tăng 3.280 người, tương đương 11,3%.

Trong số này, 1 lượt ngành có điểm chuẩn trên 25 với 410 thí sinh trúng tuyển; 32 lượt ngành có điểm chuẩn từ 22,50 đến 25 với 4.071 thí sinh. Có 250 lượt ngành điểm chuẩn dưới 22,50 điểm với 20.796 thí sinh.

Danh mục nhóm này có 163 lượt ngành mới xuất hiện trong năm 2026 và 120 lượt ngành không còn, cho thấy mức độ tái cấu trúc khá lớn.

Một trong những nhóm có tốc độ tăng đáng chú ý là các chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo - dữ liệu.

Năm 2026, nhóm này có 181 lượt ngành, tăng 57 lượt, tương đương 46%. Số thí sinh trúng tuyển đạt 13.969, tăng 3.260 người, tương đương 30,4%, tại 95 cơ sở đào tạo. Có 16 lượt ngành có điểm chuẩn trên 25 với 2.268 thí sinh trúng tuyển; 12 lượt ngành có điểm chuẩn từ 22,50 đến 25 với 1.108 thí sinh; 90 lượt ngành dưới 22,50 với 5.495 thí sinh. Đáng chú ý, trong danh mục năm 2026 có 102 lượt ngành mới xuất hiện, trong khi 45 lượt ngành hình thành từ việc tái cấu trúc chương trình đào tạo.

Các lĩnh vực chiến lược khác cũng tăng quy mô. Nhóm chương trình chuyên sâu về biển và hàng hải có 44 lượt ngành, tăng 18,9%, với 5.153 thí sinh trúng tuyển, tăng 16,1%.

Nhóm đường sắt có 29 lượt ngành, tăng 26,1%, với 2.940 thí sinh trúng tuyển, tăng tới 93,4% so với năm 2025.

Sư phạm tăng mạnh, Luật giảm thí sinh

Ngoài STEM, một số nhóm ngành khác cũng có biến động đáng chú ý.

Nhóm Sư phạm - Giáo viên có 513 lượt ngành, tăng 8%, với 44.623 thí sinh trúng tuyển, tăng 5.688 người, tương đương 14,6%. Điểm chuẩn trung vị là 24,79, giảm so với 25,90 điểm của năm 2025.

Nhóm Y dược - Sức khỏe có 338 lượt ngành, tăng 4,6%, nhưng số thí sinh trúng tuyển giảm nhẹ 0,4%, còn 43.991 người. Điểm chuẩn trung vị tăng từ 19,50 lên 20 điểm.

Trong khi đó, nhóm Luật có 212 lượt ngành, tăng 6,5%, nhưng số thí sinh trúng tuyển giảm mạnh từ 32.078 xuống 24.483, tương đương giảm 23,7%. Điểm chuẩn trung vị giữ ở mức 20 điểm.

Nhóm Quản lý - Kinh tế tiếp tục có quy mô lớn với 1.294 lượt ngành, tăng 13,6%, và 166.629 thí sinh trúng tuyển, tăng 1,6%. Điểm chuẩn trung vị giảm từ 18,54 xuống 18 điểm.

Nhóm Du lịch - Dịch vụ - Vận tải có 384 lượt ngành, tăng 12,6%, nhưng số thí sinh trúng tuyển giảm 3,4%, còn 47.482 người. Điểm chuẩn trung vị giảm từ 18,88 xuống 17,77 điểm.

Theo số liệu, nhóm Quân sự - An ninh có 27 lượt ngành, tăng 8%, với 6.153 thí sinh trúng tuyển, tăng 8,9%. Điểm chuẩn trung vị tăng từ 21,75 lên 22,89 điểm.

Nhóm Nông - Lâm - Thủy sản có 170 lượt ngành, tăng 3%, với 10.475 thí sinh trúng tuyển, tăng 2,5%. Điểm chuẩn trung vị giữ ở mức 15 điểm và không ghi nhận lượt ngành nào có điểm chuẩn trên 25.

Các nhóm ngành còn lại có 1.365 lượt ngành, tăng 15,6%, với 158.912 thí sinh trúng tuyển, tăng 0,7%. Điểm chuẩn trung vị giảm từ 19,33 xuống 18,50 điểm.

Trong phạm vi 15 nhóm ngành thuộc chính sách, năm 2026 có 1.385 lượt ngành, tăng 21,3%, nhưng số thí sinh trúng tuyển giảm nhẹ 0,8%, còn 128.688 người. Riêng khoa học cơ bản tăng cả số lượt ngành và số thí sinh trúng tuyển.

Kỳ tuyển sinh đại học năm 2026 ghi nhận bước chuyển dịch mạnh mẽ của thí sinh vào nhóm ngành STEM cùng các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Dù điểm chuẩn trung vị toàn nhóm STEM giảm nhẹ xuống mức 18,50 điểm, quy mô tuyển sinh vẫn mở rộng ấn tượng với 241.929 thí sinh trúng tuyển tại 208 cơ sở đào tạo. Điểm nhấn đáng chú ý nằm ở sự tăng trưởng vượt bậc tại các phân khúc điểm chuẩn cao từ 22,50 đến trên 25 điểm thuộc khối ngành kỹ thuật then chốt. Cụ thể, nhóm Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật ghi nhận 3.497 thí sinh đạt trên 25 điểm, trong khi nhóm Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông cũng đạt mức 3.950 thí sinh ở phân khúc này. Đặc biệt, nhóm Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường chứng kiến sự bứt phá khi số lượng trúng tuyển điểm cao tăng từ 313 lên 1.270 thí sinh. Bên cạnh các ngành kỹ thuật truyền thống, các chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo và dữ liệu phát triển mạnh mẽ với 181 lượt ngành cùng 13.969 thí sinh trúng tuyển. Trong đó, có 16 lượt ngành đạt mức điểm chuẩn trên 25 điểm, thu hút 2.268 thí sinh trúng tuyển tại 95 cơ sở đào tạo trên cả nước. Đồng thời, các lĩnh vực chiến lược như biển và hàng hải hay đường sắt cũng ghi nhận quy mô tuyển sinh tăng trưởng lần lượt là 16,1% và 26,1%. Sự dịch chuyển dòng thí sinh vào các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật mũi nhọn phản ánh xu hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực thực tế. Mức độ tái cấu trúc danh mục đào tạo sâu rộng cùng các chính sách hỗ trợ kịp thời đang tạo động lực phát triển cho hệ thống đại học năm 2026.