Bỏ qua điều hướng
•

Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường nghề: Điểm nghẽn không chỉ ở đầu vào

Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường nghề: Điểm nghẽn không chỉ ở đầu vào
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Không ít học sinh trường nghề vững chuyên môn nhưng lúng túng khi đọc tài liệu, giao tiếp bằng tiếng Anh. Trong quá trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, các chuyên gia cho rằng điểm nghẽn không chỉ nằm ở đầu vào.

Năm học 2026 - 2027, theo Bộ GD-ĐT, một trong những nhiệm vụ đối với giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là đổi mới công tác tuyển sinh, phát triển chương trình và tổ chức đào tạo; trong đó nhấn mạnh từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai theo lộ trình, phù hợp với ngành, nghề đào tạo, chuẩn đầu ra, điều kiện thực tế, năng lực đội ngũ và cơ sở vật chất của cơ sở GDNN.

Mặt bằng không đồng đều

Trao đổi với PV Thanh Niên, một giảng viên (GV) từng có nhiều năm giảng dạy tiếng Anh tại các cơ sở GDNN, cho biết qua thực tế, có thể chia học sinh (HS) thành nhiều nhóm khác nhau về năng lực tiếng Anh.

"Khoảng 50 - 60% là mất gốc hoặc rào cản tâm lý nặng, gặp khó khăn nghiêm trọng về nền tảng, vốn từ rất hạn chế, yếu nghe - nói và có tâm lý sợ tiếng Anh. Khoảng 30 - 35% có nền tảng ở mức trung bình, có thể xử lý một số cấu trúc, từ vựng thông dụng nhưng thiếu phản xạ giao tiếp tự nhiên và gần như hoàn toàn xa lạ với thuật ngữ chuyên ngành cũng như tiếng Anh trong môi trường làm việc thực tế. Chỉ khoảng 10 - 15% được đánh giá có năng lực khá giỏi, tự tin giao tiếp, thuyết trình và có động lực sử dụng tiếng Anh trong nghề nghiệp", GV này phân tích.

Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường nghề: Điểm nghẽn không chỉ ở đầu vào - Ảnh 1.

Các thiết bị, máy móc tại trường nghề đa phần đều vận hành bằng tiếng Anh

ẢNH: YẾN THI

Thạc sĩ Võ Thị Mỹ Vân, Hiệu trưởng Trường trung cấp Du lịch và khách sạn Saigontourist (STHC), cho biết tỷ lệ HS có năng lực tiếng Anh tốt ngay từ đầu vào còn khá khiêm tốn. Theo thạc sĩ Vân, đây là khó khăn cần tính đến nhưng không phải lý do để hạ thấp mục tiêu.

Cùng nhận định, bà Dương Thị Kiều Oanh, Phó giám đốc Trung tâm tuyển sinh - truyền thông, Trường CĐ Kỹ thuật - Du lịch Sài Gòn, chỉ ra thực tế cho thấy năng lực tiếng Anh của sinh viên (SV) không đồng đều. "Một bộ phận SV đã có nền tảng tương đối tốt từ phổ thông, nhưng cũng có nhiều em bước vào trường thậm chí mất căn bản", bà Oanh nói.

Theo thạc sĩ Dương Huỳnh Thanh Túy, Phó trưởng phòng Quản lý đào tạo và quản lý SV Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn, phần lớn HS, SV rất lo sợ về kỹ năng nói tiếng Anh vì còn yếu, và đây là khoảng trống năng lực đáng lưu tâm.

Bài toán GV "hai trong một"

Theo thạc sĩ Thanh Túy, việc lồng ghép ngoại ngữ vào giảng dạy chuyên ngành, tiến tới dạy một số học phần chuyên ngành bằng tiếng Anh, tuy có những tín hiệu tích cực bước đầu nhưng vẫn còn không ít khó khăn trong triển khai thực tế.

Còn tiến sĩ Đinh Văn Đệ, quyền Hiệu trưởng Trường CĐ Lý Tự Trọng TP.HCM, cho hay nhà trường đang đối mặt với nhiều khó khăn. Bên cạnh bài toán đầu vào thì năng lực tiếng Anh của GV không đồng đều cũng là vấn đề cần nhìn nhận.

Bà Kiều Oanh cũng đồng tình khi cho rằng thách thức là tìm được GV vừa có năng lực ngoại ngữ vừa hiểu đặc thù GDNN và có khả năng chuyển hóa kiến thức thành hoạt động thực hành cho SV.

Từ thực tế tại STHC, thạc sĩ Vân thông tin trong lĩnh vực du lịch, trường không thiếu GV giỏi tiếng Anh. Ngược lại, với ngành bánh, bếp, việc tìm người vừa giỏi nghề vừa sử dụng tốt tiếng Anh là rất khó. Hiện nay trường phân công GV chuyên ngành dạy kiến thức nghề, GV ngoại ngữ tập trung vào phát âm, đặt thuật ngữ vào câu và hướng dẫn cách sử dụng trong giao tiếp. Sau đó, các bộ môn chuyên ngành từng bước đưa những thuật ngữ này trở lại môi trường thực hành.

Không thể theo một công thức

Từ thực tế này, thạc sĩ Thanh Túy nhận định điểm nghẽn tại trường nghề không nằm ở một khâu riêng lẻ mà ở vòng luẩn quẩn giữa năng lực đầu vào yếu và thiếu môi trường sử dụng thật. "Ngay cả khi được dạy tốt trên lớp, người học nghề vẫn thiếu một hệ sinh thái sử dụng thật, nghĩa là ra khỏi giờ học, họ không có môi trường nghề nghiệp nào đòi hỏi hoặc khuyến khích dùng tiếng Anh thường xuyên, khiến năng lực dễ mai một".

Doanh nghiệp yêu cầu tiếng Anh mức độ nào ?

Về phía doanh nghiệp, thạc sĩ Phạm Phú Lâm, Chủ nhiệm CLB CRO Việt Nam, Giám đốc phát triển thị trường miền Nam GMO Z.com Rusystem, cho biết SV thực tập có thể nhanh chóng tiếp thu những thuật ngữ chuyên ngành cơ bản và sử dụng phần mềm hoặc tài liệu kỹ thuật có sẵn. Tuy nhiên, khả năng phản xạ giao tiếp thực tế và đọc sâu tài liệu còn hạn chế. Nhiều SV thiếu tự tin, ngại trình bày ý kiến bằng tiếng Anh khi làm việc nhóm hoặc trao đổi trực tiếp.

Theo thạc sĩ Phạm Phú Lâm, yêu cầu tiếng Anh tùy thuộc vào vị trí tuyển dụng. Với nhóm kỹ thuật, vận hành, người lao động cần đọc tài liệu kỹ thuật, quy trình vận hành tiêu chuẩn (SOP), thông báo lỗi và giao tiếp cơ bản tại nơi làm việc. Với những vị trí tiếp xúc khách hàng, đối tác, yêu cầu chủ yếu về phản xạ và giao tiếp. Ông lưu ý doanh nghiệp quan tâm khả năng ứng dụng thực tế hơn là chỉ nhìn vào điểm số chứng chỉ.

Đánh giá chương trình học hiện nay, thạc sĩ Lâm cho rằng đã có những bước tiến theo hướng tiếng Anh chuyên ngành nhưng chưa theo kịp đầy đủ sự thay đổi của môi trường làm việc. Một số tài liệu học tập còn thiên về lý thuyết, trong khi SV ít được mô phỏng những tình huống như viết email báo cáo sự cố, trình bày tiến độ, tham gia cuộc họp hay xử lý một vấn đề bằng tiếng Anh.

Vì vậy, theo ông, nhà trường và doanh nghiệp nên đẩy mạnh mô hình đồng xây dựng bài tập tình huống thực tế (case study) và đưa các buổi báo cáo/thực hành song ngữ vào kỳ thực tập để SV "dám nói, quen dùng" ngay từ trong nhà trường.

Cũng theo thạc sĩ Thanh Túy, nhiều chuyên gia GDNN cho rằng để tiếng Anh thực sự đi vào các trường nghề, cần 3 yếu tố: thứ nhất, nội dung giảng dạy cần gắn với từng chuyên ngành cụ thể (thuật ngữ kỹ thuật, giao tiếp nghề nghiệp) thay vì chương trình ngoại ngữ đại trà; thứ hai, có thể tích hợp giảng dạy một phần nội dung chuyên môn bằng ngôn ngữ thứ hai để người học "dùng ngôn ngữ để học nghề"; thứ ba, tận dụng nền tảng công nghệ số từ ứng dụng luyện phát âm đến học liệu số song ngữ - để việc học ngôn ngữ không bị giới hạn trong thời lượng lớp học truyền thống.

Còn với GV Nguyễn Thị Quỳnh Trinh, Khoa Ngôn ngữ Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn, SV trường nghề học tiếng Anh không phải để nghiên cứu ngôn ngữ mà để sử dụng ngay trong công việc, dùng ngay trong nhà xưởng. Các em cần đọc tài liệu kỹ thuật, giao tiếp với chuyên gia hoặc khách hàng nước ngoài, hiểu hướng dẫn an toàn lao động bằng tiếng Anh. Vì vậy, cách tiếp cận phù hợp là tiếng Anh chuyên ngành, với vốn từ và các tình huống giao tiếp được xây dựng sát với từng nghề, thay vì áp dụng một chương trình tiếng Anh đại trà cho tất cả.

Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường nghề: Điểm nghẽn không chỉ ở đầu vào - Ảnh 3.

Sinh viên nghề cần biết các từ ngữ chuyên ngành, đọc được hướng dẫn an toàn lao động bằng tiếng Anh

ảnh: Yến Thi

Tương tự, theo bà Kiều Oanh, không nên hiểu "ngôn ngữ thứ hai" đơn thuần là tăng số tiết tiếng Anh hay nâng yêu cầu về điểm số. "Mỗi nghề có một nhu cầu khác nhau. Ví dụ, SV du lịch, nhà hàng - khách sạn cần giao tiếp nhiều với khách; SV ngành công nghệ thông tin cần đọc tài liệu chuyên ngành và thuật ngữ kỹ thuật; SV ngành ô tô cần tiếp cận tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn vận hành. Vì thế, cần xác định năng lực phù hợp với yêu cầu của từng nghề", bà nói.

Những vấn đề này cho thấy "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" trong trường nghề không thể chỉ giao cho khoa ngoại ngữ. Nó đòi hỏi sự phối hợp giữa GV ngoại ngữ, GV chuyên môn, nhà trường và doanh nghiệp, cùng với học liệu phù hợp và một môi trường để người học sử dụng thường xuyên. 

Lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp từ năm học 2026 - 2027 đang gặp phải rào cản lớn từ chất lượng đầu vào của học sinh. Khảo sát thực tế cho thấy khoảng 50 - 60% học sinh rơi vào tình trạng mất gốc, 30 - 35% có nền tảng trung bình nhưng thiếu phản xạ giao tiếp, và chỉ vỏn vẹn 10 - 15% đạt mức khá giỏi. Khoảng trống năng lực này khiến nhiều đại diện các trường như CĐ Kỹ thuật - Du lịch Sài Gòn hay CĐ Đại Việt Sài Gòn thừa nhận tâm lý lo sợ kỹ năng nói tiếng Anh là thách thức không nhỏ. Nút thắt của đề án không chỉ nằm ở người học mà còn xuất hiện ở bài toán đội ngũ giảng viên "hai trong một". Tiến sĩ Đinh Văn Đệ, quyền Hiệu trưởng Trường CĐ Lý Tự Trọng TP.HCM cùng đại diện các trường chỉ ra tình trạng năng lực ngoại ngữ của lực lượng giảng dạy chuyên ngành hiện không đồng đều. Việc tìm kiếm nhân sự vừa vững kỹ năng nghề vừa am hiểu và có khả năng giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh đang là thách thức cực kỳ gay gắt. Thực trạng tại Trường trung cấp Du lịch và khách sạn Saigontourist thể hiện rõ sự phân hóa giữa các nhóm ngành đào tạo. Trong khi lĩnh vực du lịch sở hữu lực lượng giảng viên dồi dào về ngoại ngữ, thì các ngành đòi hỏi thao tác thực hành như làm bánh hay nấu ăn lại rất khó tuyển dụng người giỏi cả chuyên môn lẫn tiếng Anh. Thạc sĩ Võ Thị Mỹ Vân, Hiệu trưởng nhà trường, khẳng định đây là khó khăn thực tế cần tháo gỡ chứ không thể là lý do để hạ thấp mục tiêu giáo dục.